Dùng thử AI
Tiếng Trung中文Lộ trình HSK, giải thích bằng tiếng Việt

Ngữ pháp Tiếng Trung

Mỗi điểm có công thức, giải thích bằng tiếng Việt, ví dụ bấm nghe và ô So với tiếng Việt. Thêm điểm khó vào ôn tập để thẻ quay lại đúng lúc bạn sắp quên.

247 điểm ngữ pháp

HSK 1Sơ cấp 1

你好 – chào theo người và theo thời điểm

Người / thời điểm + 好

Ghép người được chào (hoặc thời điểm trong ngày) với 好 là thành lời chào. 你好 dùng với mọi người; 您好 lịch sự hơn với người lớn tuổi, cấp trên, khách hàng. Thêm 们 sau đại từ để chỉ số nhiều: 你们好 chào nhiều người.

  • 您好!

    Nín hǎo!

    Cháu chào bác ạ!

  • 老师好!

    Lǎoshī hǎo!

    Em chào thầy/cô ạ!

  • 早上好!

    Zǎoshang hǎo!

    Chào buổi sáng!

  • 你们好!

    Nǐmen hǎo!

    Chào các bạn!

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “Chào thầy”, tiếng Trung đảo lại: 老师好 (thầy + tốt). Đừng nói “好老师” – nghĩa là “thầy giáo tốt”. Hai thanh 3 liền nhau thì thanh đầu đọc thành thanh 2: nǐ hǎo đọc gần như “ní hảo”, nhưng pinyin vẫn viết nǐ hǎo.

Trong bài: Chào hỏi – cảm ơn

吗 – câu hỏi “có… không?”

Câu trần thuật + 吗?

Muốn hỏi có/không, chỉ cần thêm 吗 vào cuối câu trần thuật, giữ nguyên trật tự từ. Trả lời khẳng định thì nhắc lại động từ hoặc tính từ; phủ định thì thêm 不. 吗 đọc nhẹ, không có dấu thanh.

  • 你好吗?

    Nǐ hǎo ma?

    Bạn khỏe không?

  • 你们好吗?

    Nǐmen hǎo ma?

    Các bạn khỏe không?

  • 您是老师吗?

    Nín shì lǎoshī ma?

    Ông là giáo viên phải không ạ?

So với tiếng Việt

Chữ “không” ở cuối câu hỏi tiếng Việt chính là 吗, đừng dịch thành 不: “Bạn khỏe không?” là 你好吗?, không phải 你好不?. Câu đã có từ để hỏi (什么, 谁, 哪儿…) thì không thêm 吗.

Trong bài: Chào hỏi – cảm ơn

是 – câu “A là B”

A + 是 + B / A + 不是 + B

是 nối hai danh từ (hoặc đại từ với danh từ), giống “là” trong tiếng Việt. Phủ định thêm 不 trước 是: 不是 = “không phải là”. Hỏi thì thêm 吗: A 是 B 吗? Trả lời ngắn: 是 (vâng) / 不是 (không phải).

  • 我是学生。

    Wǒ shì xuésheng.

    Tôi là học sinh.

  • 他不是老师。

    Tā bù shì lǎoshī.

    Anh ấy không phải là giáo viên.

  • 你是中国人吗?

    Nǐ shì Zhōngguórén ma?

    Bạn là người Trung Quốc phải không?

So với tiếng Việt

Lỗi rất hay gặp: thêm 是 trước tính từ như tiếng Việt “tôi là vui”. Nói 我很高兴, không nói 我是高兴. Phủ định của 是 chỉ là 不是, không bao giờ 没是. Khi đọc, 不 trước thanh 4 biến thành thanh 2: bù shì đọc “bú shì”.

Trong bài: Tên và quốc tịch

什么, 哪 – câu hỏi có từ để hỏi

Giữ nguyên câu, thay phần muốn hỏi bằng 什么 / 哪 (+ danh từ)

Muốn hỏi phần nào thì đặt từ để hỏi vào đúng chỗ của phần đó, không đảo trật tự. 什么 = gì, cái gì (có thể đứng trước danh từ: 什么名字). 哪 = nào, phải đi với danh từ hoặc lượng từ phía sau: 哪国人, 哪个. Câu này không thêm 吗.

  • 你叫什么名字?

    Nǐ jiào shénme míngzi?

    Bạn tên là gì?

  • 你是哪国人?

    Nǐ shì nǎ guó rén?

    Bạn là người nước nào?

  • 他说什么?

    Tā shuō shénme?

    Anh ấy nói gì vậy?

So với tiếng Việt

Tin vui: trật tự giống hệt tiếng Việt (“Bạn tên gì?” → 你叫什么名字?). Đừng đưa từ để hỏi lên đầu câu như tiếng Anh, và đừng thêm 吗: 你叫什么名字吗 là sai.

Trong bài: Tên và quốc tịch

呢 – hỏi lại “còn… thì sao?”

Danh từ / đại từ + 呢?

Sau khi nói về mình, muốn hỏi ngược lại cùng nội dung thì chỉ cần “người đó + 呢”. Nếu đứng một mình không có ngữ cảnh, “ai đó + 呢” còn có nghĩa “… đâu rồi?”.

  • 我是越南人,你呢?

    Wǒ shì Yuènánrén, nǐ ne?

    Tôi là người Việt Nam, còn bạn?

  • 我叫兰,你呢?

    Wǒ jiào Lán, nǐ ne?

    Mình tên Lan, còn bạn?

  • 老师呢?

    Lǎoshī ne?

    Thầy đâu rồi?

So với tiếng Việt

呢 giống “còn bạn?” của tiếng Việt, rất gọn. Không dùng 呢 cho câu hỏi có/không: “Bạn là sinh viên không?” phải dùng 吗.

Trong bài: Tên và quốc tịch

有 / 没有 – có, không có

A + 有 + danh từ / A + 没有 + danh từ

有 nói ai đó sở hữu hoặc có ai, có cái gì. Phủ định luôn là 没有. Hỏi: 你有……吗? hoặc 你有没有……? Trả lời ngắn: 有 / 没有.

  • 我有一个姐姐。

    Wǒ yǒu yī ge jiějie.

    Tôi có một chị gái.

  • 他没有弟弟。

    Tā méiyǒu dìdi.

    Anh ấy không có em trai.

  • 你有哥哥吗?——有。

    Nǐ yǒu gēge ma? —— Yǒu.

    Bạn có anh trai không? – Có.

So với tiếng Việt

Người Việt quen “không có” nên hay nói 不有 – sai hoàn toàn. Với 有 chỉ dùng 没: 没有 (hoặc nói tắt 没).

Trong bài: Gia đình

的 – “của” (sở hữu)

Người sở hữu + 的 + vật / người

Tiếng Trung đặt người sở hữu TRƯỚC, nối bằng 的: 我的老师 = thầy giáo của tôi. Với người thân trong nhà, tập thể gần gũi (nhà, trường, lớp), 的 thường được bỏ: 我妈妈, 我家, 我们老师.

  • 他是我的朋友。

    Tā shì wǒ de péngyou.

    Anh ấy là bạn của tôi.

  • 我妈妈是老师。

    Wǒ māma shì lǎoshī.

    Mẹ tôi là giáo viên.

  • 她是老师的女儿。

    Tā shì lǎoshī de nǚ'ér.

    Cô ấy là con gái của thầy giáo.

So với tiếng Việt

Trật tự ngược tiếng Việt: “bạn của tôi” → 我的朋友 (tôi – của – bạn). Đừng nói 朋友的我.

Trong bài: Gia đình

谁 – hỏi “ai”

… 是谁? / 谁 + động từ …? / 谁的 + danh từ

谁 thay vào vị trí của người cần hỏi, giữ nguyên trật tự câu. 谁的 = của ai. Trong khẩu ngữ, 谁 thường đọc shéi, cũng có người đọc shuí.

  • 他是谁?

    Tā shì shéi?

    Anh ấy là ai?

  • 谁是你的老师?

    Shéi shì nǐ de lǎoshī?

    Ai là thầy giáo của bạn?

  • 她是谁的妹妹?

    Tā shì shéi de mèimei?

    Cô ấy là em gái của ai?

So với tiếng Việt

Giống tiếng Việt: “Anh ấy là ai?” → 他是谁?. Không thêm 吗 sau câu có 谁.

Trong bài: Gia đình

Số + lượng từ + danh từ; 二 và 两

Số + 个 / 口 / 岁 … (+ danh từ)

Giữa số và danh từ bắt buộc có lượng từ: 一个人, 三口人. 个 là lượng từ chung dùng được với người và rất nhiều đồ vật. Số 2 đứng trước lượng từ đọc là 两 (两个人); khi đếm, đọc số điện thoại, số có hàng chục thì dùng 二 (二, 十二, 二十二).

  • 我有两个哥哥。

    Wǒ yǒu liǎng ge gēge.

    Tôi có hai anh trai.

  • 他家有三口人。

    Tā jiā yǒu sān kǒu rén.

    Nhà anh ấy có ba người.

  • 我们有十二个学生。

    Wǒmen yǒu shí'èr ge xuésheng.

    Chúng tôi có mười hai học sinh.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “hai người” không cần chữ “cái”, nên người Việt hay quên lượng từ. 二个人 là sai; 两人 chỉ gặp trong văn viết – khi nói hãy dùng 两个人. Chữ 个 trong câu thường đọc nhẹ “ge”.

Trong bài: Số đếm, tuổi, số điện thoại

几 và 多少 – hỏi số lượng

几 + lượng từ + danh từ / 多少 (+ lượng từ) + danh từ

几 hỏi số nhỏ (người hỏi đoán dưới 10) và luôn phải có lượng từ đi sau: 几个, 几口. 多少 hỏi số lớn hoặc không đoán được, có thể bỏ lượng từ: 多少学生. Hỏi số điện thoại, số phòng dùng 多少.

  • 你家有几口人?

    Nǐ jiā yǒu jǐ kǒu rén?

    Nhà bạn có mấy người?

  • 你们有多少学生?

    Nǐmen yǒu duōshao xuésheng?

    Các bạn có bao nhiêu học sinh?

  • 你的手机是多少?

    Nǐ de shǒujī shì duōshao?

    Số di động của bạn là bao nhiêu?

So với tiếng Việt

“Mấy” ↔ 几, “bao nhiêu” ↔ 多少 – khá giống tiếng Việt. Lỗi hay gặp: 几人 (thiếu lượng từ). Nói 几个人.

Trong bài: Số đếm, tuổi, số điện thoại

Hỏi và nói tuổi

A + số + 岁 / A + 几岁? / 多大?

Nói tuổi không cần 是: 我二十岁. Hỏi trẻ em dùng 你几岁?; hỏi người cùng trang lứa dùng 你多大?; hỏi người lớn tuổi lịch sự dùng 您多大年纪? (biết để nghe hiểu). Khi phủ định thì phải có 不是: 我不是二十岁.

  • 你几岁?——我五岁。

    Nǐ jǐ suì? —— Wǒ wǔ suì.

    Con mấy tuổi? – Con năm tuổi.

  • 你多大?——我二十岁。

    Nǐ duō dà? —— Wǒ èrshí suì.

    Bạn bao nhiêu tuổi? – Mình hai mươi tuổi.

  • 他不是十八岁,他十九岁。

    Tā bù shì shíbā suì, tā shíjiǔ suì.

    Anh ấy không phải mười tám, anh ấy mười chín tuổi.

So với tiếng Việt

Đừng nói 我是二十岁 trong câu khẳng định – nghe như đang cãi lại. Người Việt hay hỏi tuổi người mới quen; với người lớn tuổi hơn, tránh 你几岁 vì nghe như hỏi trẻ con.

Trong bài: Số đếm, tuổi, số điện thoại

Nói ngày tháng: từ lớn đến nhỏ

… 年 + … 月 + … 号 + 星期…

Tiếng Trung xếp thời gian từ đơn vị lớn đến nhỏ: năm → tháng → ngày → thứ. Năm đọc từng chữ số: 二〇二六年 (èr líng èr liù nián). Thứ dùng 星期 + số: 星期一 là thứ Hai … 星期六 là thứ Bảy, Chủ nhật là 星期天 (hoặc 星期日). Khi khẳng định có thể bỏ 是: 今天五号; khi phủ định phải có 不是.

  • 今天十月十四号,星期三。

    Jīntiān shí yuè shísì hào, xīngqīsān.

    Hôm nay thứ Tư, ngày 14 tháng 10.

  • 我的生日是二〇〇八年六月一号。

    Wǒ de shēngrì shì èr líng líng bā nián liù yuè yī hào.

    Sinh nhật tôi là ngày 1 tháng 6 năm 2008.

  • 明天不是星期六。

    Míngtiān bù shì xīngqīliù.

    Ngày mai không phải thứ Bảy.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói ngược: “thứ Tư, ngày 14 tháng 10 năm 2026”. Sang tiếng Trung đảo hết lại. Cẩn thận: 星期一 là thứ HAI (không phải thứ Một), nên số sau 星期 luôn nhỏ hơn “thứ” tiếng Việt 1 đơn vị.

Trong bài: Ngày tháng, thứ, giờ

Nói giờ: 点, 分, 半

(Buổi) + số + 点 + (số + 分 / 半)

Giờ dùng 点, phút dùng 分, rưỡi là 半. Buổi đứng TRƯỚC giờ: 下午三点 (ba giờ chiều). Hỏi giờ: 现在几点? 2 giờ nói 两点, không nói 二点; nhưng 12 giờ là 十二点. Phút dưới 10 thường thêm 零: 八点零五分.

  • 现在几点?——下午两点。

    Xiànzài jǐ diǎn? —— Xiàwǔ liǎng diǎn.

    Bây giờ mấy giờ? – Hai giờ chiều.

  • 现在九点二十分。

    Xiànzài jiǔ diǎn èrshí fēn.

    Bây giờ là chín giờ hai mươi.

  • 晚上七点半见。

    Wǎnshang qī diǎn bàn jiàn.

    Bảy rưỡi tối gặp nhé.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “ba giờ chiều”, tiếng Trung nói “chiều ba giờ” 下午三点. Đừng nói 三点下午.

Trong bài: Ngày tháng, thứ, giờ

Thời gian đứng trước động từ

Chủ ngữ + thời gian + động từ / Thời gian + chủ ngữ + động từ

Từ chỉ thời điểm (今天, 明天, 下午三点…) phải đứng trước động từ: ngay sau chủ ngữ, hoặc ở đầu câu. Nếu có cả ngày và giờ thì vẫn theo thứ tự lớn → nhỏ: 明天上午九点.

  • 我明天去中国。

    Wǒ míngtiān qù Zhōngguó.

    Ngày mai tôi đi Trung Quốc.

  • 今天晚上你去哪儿?

    Jīntiān wǎnshang nǐ qù nǎr?

    Tối nay bạn đi đâu?

  • 老师星期五下午去学校。

    Lǎoshī xīngqīwǔ xiàwǔ qù xuéxiào.

    Chiều thứ Sáu thầy đến trường.

So với tiếng Việt

Người Việt hay nói “Tôi đi Trung Quốc ngày mai” rồi dịch thành 我去中国明天 – sai. Quy tắc vàng: thời gian luôn đứng TRƯỚC động từ.

Trong bài: Ngày tháng, thứ, giờ

想 và 要 – muốn

想 + động từ / 要 + danh từ / động từ

想 + động từ: muốn, mong làm gì (nhẹ nhàng, có thể chỉ là ý thích). 要 + danh từ: muốn có, lấy (rất hay dùng khi gọi món, mua hàng); 要 + động từ: muốn, định làm (ý chí mạnh hơn 想). Phủ định “không muốn làm” thường dùng 不想; còn 不要 + động từ khi khuyên bảo, ra lệnh người khác lại nghĩa là “đừng”.

  • 我想喝茶。

    Wǒ xiǎng hē chá.

    Tôi muốn uống trà.

  • 我要一杯牛奶。

    Wǒ yào yī bēi niúnǎi.

    Cho tôi một cốc sữa.

  • 我不想吃米饭,我想吃面条。

    Wǒ bù xiǎng chī mǐfàn, wǒ xiǎng chī miàntiáo.

    Tôi không muốn ăn cơm, tôi muốn ăn mì.

So với tiếng Việt

“Tôi không muốn đi” là 我不想去. Nói với người khác 不要去 thì nghĩa thành “đừng đi”. Khi gọi món, nói 我要…… nghe tự nhiên và lịch sự, không bị coi là ra lệnh.

Trong bài: Ăn uống, gọi món

很 + tính từ – câu miêu tả

Chủ ngữ + 很 + tính từ / Chủ ngữ + 不 + tính từ

Tính từ tự làm vị ngữ, không cần 是. Câu khẳng định thường thêm 很 cho tròn câu; lúc này 很 không còn nhấn mạnh “rất”. Bỏ 很 thì câu mang ý so sánh (这个好吃,那个不好吃). Phủ định: 不 + tính từ. Hỏi: tính từ + 吗?

  • 我很饿。

    Wǒ hěn è.

    Tôi đói.

  • 面条好吃吗?——很好吃!

    Miàntiáo hǎochī ma? —— Hěn hǎochī!

    Mì ngon không? – Ngon lắm!

  • 这个菜不好吃。

    Zhège cài bù hǎochī.

    Món này không ngon.

So với tiếng Việt

Lỗi số một của người Việt: 我是饿 (“tôi là đói”). Bỏ 是, thêm 很: 我很饿. Phủ định không dùng 很不 khi chỉ muốn nói “không đói”: 我不饿.

Trong bài: Ăn uống, gọi món

多少钱?– hỏi giá, nói giá

(Vật) + 多少钱? / (Vật) + số + 块 (钱)

Hỏi giá: ……多少钱? Nói giá: số + 块 (+ 钱). 块 là cách nói hằng ngày, 元 dùng trên bảng giá, hóa đơn. Câu nói giá không cần 是: 苹果五块钱一斤 (táo năm đồng một cân; 斤 là cân Trung Quốc, bằng nửa ki-lô-gam).

  • 这个苹果多少钱?

    Zhège píngguǒ duōshao qián?

    Quả táo này bao nhiêu tiền?

  • 这本书三十块。

    Zhè běn shū sānshí kuài.

    Quyển sách này ba mươi đồng.

  • 那件衣服两百块钱。

    Nà jiàn yīfu liǎngbǎi kuài qián.

    Chiếc áo kia hai trăm đồng.

So với tiếng Việt

Trật tự giống hệt “Cái này bao nhiêu tiền?”: 这个多少钱?, không cần thêm 是. Người bán hay nói rất nhanh và bỏ 钱: “三十块”. 200 trong khẩu ngữ thường đọc 两百.

Trong bài: Mua sắm, tiền, giá

这 / 那 / 哪 + lượng từ

这 / 那 / 哪 + lượng từ + danh từ / 这是…, 那是…

这 (này), 那 (kia) đứng TRƯỚC, sau đó là lượng từ, rồi mới tới danh từ: 这件衣服, 那本书. Đứng một mình làm chủ ngữ: 这是…… (đây là). Hỏi “cái nào”: 哪 + lượng từ: 哪个, 哪本. Khẩu ngữ hay đọc 这个 là zhèige, 那个 là nèige.

  • 这本书是我的。

    Zhè běn shū shì wǒ de.

    Quyển sách này là của tôi.

  • 那件衣服太贵了。

    Nà jiàn yīfu tài guì le.

    Chiếc áo kia đắt quá.

  • 你要哪个?——我要这个。

    Nǐ yào nǎge? —— Wǒ yào zhège.

    Bạn lấy cái nào? – Tôi lấy cái này.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt: “chiếc áo này” (danh từ trước, “này” sau). Tiếng Trung đảo: 这件衣服 (này – chiếc – áo). Nhớ: 这/那 luôn đứng đầu cụm.

Trong bài: Mua sắm, tiền, giá

太……了 – quá …

太 + tính từ + 了 / 不太 + tính từ

太……了 diễn tả mức độ quá cao, thường kèm cảm xúc: than phiền (太贵了) hoặc khen, vui mừng (太好了). Phủ định nhẹ nhàng: 不太 + tính từ = không … lắm; lúc này không có 了.

  • 太贵了!

    Tài guì le!

    Đắt quá!

  • 这个饭店的菜太好吃了!

    Zhège fàndiàn de cài tài hǎochī le!

    Món ở nhà hàng này ngon quá!

  • 这件衣服不太贵。

    Zhè jiàn yīfu bù tài guì.

    Chiếc áo này không đắt lắm.

So với tiếng Việt

Người Việt hay quên 了: 太贵 nghe cụt. Ngược lại đừng thêm 了 vào 不太贵了 – sai.

Trong bài: Mua sắm, tiền, giá

在 – “ở” (động từ chỉ vị trí)

Người / vật + 在 + nơi chốn / … 在哪儿?

在 làm động từ chính: ai, cái gì ở đâu. Hỏi vị trí: ……在哪儿? Phủ định: 不在 (không ở). Sau 在 phải là nơi chốn; nếu là người hoặc đồ vật thì thêm 这儿/那儿 hoặc phương vị từ: 在我这儿, 在门左边.

  • 洗手间在哪儿?

    Xǐshǒujiān zài nǎr?

    Nhà vệ sinh ở đâu?

  • 老师不在学校,在家。

    Lǎoshī bù zài xuéxiào, zài jiā.

    Thầy không ở trường, thầy ở nhà.

  • 你的书在我这儿。

    Nǐ de shū zài wǒ zhèr.

    Sách của bạn đang ở chỗ tôi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “Nhà vệ sinh ở đâu?” – trật tự giống hệt: 洗手间在哪儿? Đừng thêm 是: 洗手间是在哪儿 không sai hẳn nhưng thừa, người mới học nên bỏ.

Trong bài: Nơi chốn, hỏi đường gần

Phương vị từ: 前边, 后边, 左边, 右边, 旁边, 里

Danh từ (mốc) + phương vị từ / Nơi chốn + 有 + người/vật

Phương vị từ đứng SAU danh từ làm mốc: 商店前边 (phía trước cửa hàng), 家里 (trong nhà). Hai mẫu câu: “A 在 B + phương vị” (A ở đâu) và “B + phương vị + 有 + A” (ở đâu có gì). 里 đọc nhẹ “li” khi đứng sau danh từ.

  • 医院在学校后边。

    Yīyuàn zài xuéxiào hòubian.

    Bệnh viện ở phía sau trường học.

  • 商店左边有一个饭店。

    Shāngdiàn zuǒbian yǒu yī ge fàndiàn.

    Bên trái cửa hàng có một nhà hàng.

  • 学校旁边有一个医院。

    Xuéxiào pángbiān yǒu yī ge yīyuàn.

    Bên cạnh trường học có một bệnh viện.

So với tiếng Việt

Ngược tiếng Việt: “trước cửa hàng” → 商店前边 (cửa hàng – trước); “trong nhà” → 家里. Lỗi hay gặp: 前边商店 (nghĩa thành “cửa hàng ở phía trước”) hoặc 在里家.

Trong bài: Nơi chốn, hỏi đường gần

会 và 能 – biết, có thể

Chủ ngữ + 会 / 能 + động từ / 不会 / 不能 + động từ

会 + động từ: biết làm gì nhờ học, luyện (会说汉语, 会写汉字). 能 + động từ: có khả năng, điều kiện hoặc được phép làm (今天我能去, 我能问吗?). Phủ định: 不会, 不能. Hỏi xin phép lịch sự: 我能……吗?

  • 我会写汉字。

    Wǒ huì xiě Hànzì.

    Tôi biết viết chữ Hán.

  • 今天我不能上课。

    Jīntiān wǒ bù néng shàngkè.

    Hôm nay tôi không đi học được.

  • 老师,我能问一个问题吗?

    Lǎoshī, wǒ néng wèn yī ge wèntí ma?

    Thưa thầy, em có thể hỏi một câu không ạ?

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng “biết” và “được” khá linh hoạt, nên người Việt hay lẫn: “Tôi biết nói tiếng Trung” là 会, “Mai tôi đi được” là 能. Mẹo: học mới biết → 会; hoàn cảnh cho phép → 能.

Trong bài: Trường lớp và học tập

在 – giới từ “ở, tại” trước động từ

Chủ ngữ + 在 + nơi chốn + động từ (+ tân ngữ)

Khi nói làm việc gì ở đâu, cụm “在 + nơi chốn” đứng TRƯỚC động từ: 我在大学学习. Phủ định đặt 不 trước 在: 我不在家吃饭. Hỏi: 你在哪儿学习?

  • 我在大学学习汉语。

    Wǒ zài dàxué xuéxí Hànyǔ.

    Tôi học tiếng Trung ở trường đại học.

  • 我们在学校上课。

    Wǒmen zài xuéxiào shàngkè.

    Chúng tôi học ở trường.

  • 今天我不在家吃饭。

    Jīntiān wǒ bù zài jiā chī fàn.

    Hôm nay tôi không ăn cơm ở nhà.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “Tôi học tiếng Trung ở đại học” (nơi chốn ở cuối). Dịch thẳng thành 我学习汉语在大学 là lỗi kinh điển. Nhớ: thời gian, nơi chốn đều đứng trước động từ – thứ tự: ai + khi nào + ở đâu + làm gì.

Trong bài: Trường lớp và học tập

Câu liên động 去 / 来 + nơi chốn + làm gì

Chủ ngữ + 去 / 来 + nơi chốn + động từ (+ tân ngữ)

Hai động từ xếp liền nhau theo thứ tự xảy ra: đi đâu trước, rồi làm gì (mục đích). 我去电影院看电影 = tôi đến rạp xem phim. Có thể bỏ nơi chốn: 我去看电影. Thời gian vẫn đứng trước: 星期六我去商店买衣服.

  • 我去电影院看电影。

    Wǒ qù diànyǐngyuàn kàn diànyǐng.

    Tôi đến rạp xem phim.

  • 星期天他来我家玩儿。

    Xīngqītiān tā lái wǒ jiā wánr.

    Chủ nhật anh ấy đến nhà tôi chơi.

  • 下午我们去学校打球。

    Xiàwǔ wǒmen qù xuéxiào dǎ qiú.

    Chiều nay chúng tôi đến trường chơi bóng.

So với tiếng Việt

May mắn: trật tự giống tiếng Việt (“đi rạp xem phim”). Lỗi hay gặp là thêm 和 hoặc 在 vào giữa: 我去电影院和看电影 ✗. Hai động từ đứng liền, không cần từ nối.

Trong bài: Sở thích, cuối tuần

也 và 都 – vị trí trong câu

Chủ ngữ + 也 / 都 + động từ / tính từ / Chủ ngữ + 也都 + …

也 (cũng) và 都 (đều) là phó từ, luôn đứng SAU chủ ngữ và TRƯỚC động từ, tính từ. 都 tổng kết những người/vật đứng trước nó, nên chủ ngữ phải là số nhiều. Có cả hai thì 也 đứng trước: 我们也都喜欢. Phủ định: 都不 = đều không; 不都 = không phải tất cả.

  • 我也喜欢看电影。

    Wǒ yě xǐhuan kàn diànyǐng.

    Tôi cũng thích xem phim.

  • 我们都是越南人。

    Wǒmen dōu shì Yuènánrén.

    Chúng tôi đều là người Việt Nam.

  • 他们也都不喜欢唱歌。

    Tāmen yě dōu bù xǐhuan chàng gē.

    Họ cũng đều không thích hát.

So với tiếng Việt

Người Việt hay đặt 也 sau động từ (我喜欢也 ✗) hoặc trước chủ ngữ (也我喜欢 ✗). Nhớ khẩu quyết: “Ai + 也/都 + làm gì”. Đừng dùng 都 cho chủ ngữ số ít: 我都喜欢 chỉ đúng khi tân ngữ đã nhắc ở trước.

Trong bài: Sở thích, cuối tuần

喜欢 + động từ / danh từ

Chủ ngữ + (很 / 不) + 喜欢 + danh từ / động từ

喜欢 đi được với danh từ (喜欢茶) hoặc cả cụm động từ (喜欢喝茶). Mức độ: 很喜欢 (rất thích), 不太喜欢 (không thích lắm), 不喜欢 (không thích). 爱 + động từ = rất mê làm gì. Hỏi sở thích: 你喜欢做什么?

  • 你喜欢做什么?——我喜欢唱歌。

    Nǐ xǐhuan zuò shénme? —— Wǒ xǐhuan chàng gē.

    Bạn thích làm gì? – Mình thích hát.

  • 我很喜欢中国电影。

    Wǒ hěn xǐhuan Zhōngguó diànyǐng.

    Tôi rất thích phim Trung Quốc.

  • 他不太喜欢打球。

    Tā bù tài xǐhuan dǎ qiú.

    Anh ấy không thích chơi bóng lắm.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “thích lắm” (lắm ở sau). Tiếng Trung đặt phó từ mức độ trước: 很喜欢, 不太喜欢. Đừng nói 喜欢很.

Trong bài: Sở thích, cuối tuần

怎么样 – hỏi “thế nào?”

Chủ đề + 怎么样? / Đề nghị, ……怎么样?

怎么样 đặt cuối câu để hỏi tình hình, đánh giá: 天气怎么样? (thời tiết thế nào?), 你身体怎么样? (sức khỏe bạn thế nào?). Sau một lời đề nghị, ……怎么样? nghĩa là “… được không, thấy sao?”. Trả lời bằng (很 / 非常 / 不) + tính từ.

  • 今天天气怎么样?——很冷。

    Jīntiān tiānqì zěnmeyàng? —— Hěn lěng.

    Hôm nay thời tiết thế nào? – Lạnh lắm.

  • 你爷爷身体怎么样?

    Nǐ yéye shēntǐ zěnmeyàng?

    Sức khỏe ông bạn thế nào?

  • 我们明天去,怎么样?

    Wǒmen míngtiān qù, zěnmeyàng?

    Mai chúng ta đi, được không?

So với tiếng Việt

Trật tự giống “Thời tiết thế nào?”. Không thêm 吗 vào câu có 怎么样, và đừng đưa 怎么样 lên trước chủ đề.

Trong bài: Thời tiết và sức khỏe

了 cuối câu – “rồi” (tình huống đã thay đổi)

Câu + 了 (天冷了, 下雨了, 我十八岁了)

了 đặt cuối câu báo một tình huống mới vừa xuất hiện, khác trước: trời đã chuyển lạnh, đã bắt đầu mưa, ai đó đã bị ốm. Rất giống chữ “rồi” cuối câu trong tiếng Việt. Câu có 了 này thường không cần 很: 天冷了.

  • 下雨了!

    Xià yǔ le!

    Mưa rồi!

  • 天冷了,你多穿衣服。

    Tiān lěng le, nǐ duō chuān yīfu.

    Trời lạnh rồi, bạn mặc thêm áo vào.

  • 我弟弟生病了,今天不能上课。

    Wǒ dìdi shēngbìng le, jīntiān bù néng shàngkè.

    Em trai tôi bị ốm rồi, hôm nay không đi học được.

So với tiếng Việt

Dịch “rồi” cuối câu sang 了 thường đúng. Thêm 不 thì thành “không … nữa”: 我不累了 = tôi hết mệt rồi. Bài sau bạn sẽ học thêm 了 đứng ngay sau động từ (đã làm xong).

Trong bài: Thời tiết và sức khỏe

怎么 + động từ; 坐 + phương tiện + 去

怎么 + động từ? / 坐 / 开 + phương tiện + 去 / 来 + nơi chốn

怎么 + động từ hỏi cách thức: 怎么去? (đi bằng cách nào?), 怎么写? (viết thế nào?). Trả lời bằng câu liên động: 坐飞机去, 坐火车来, 开车去; 打车去 là bắt taxi đi, 走路去 là đi bộ. Phương tiện đứng TRƯỚC 去/来. Lượng từ của vé là 张 (zhāng): 两张票.

  • 你怎么去机场?——我打车去。

    Nǐ zěnme qù jīchǎng? —— Wǒ dǎchē qù.

    Bạn đi sân bay bằng gì? – Mình bắt taxi đi.

  • 我们坐火车去北京。

    Wǒmen zuò huǒchē qù Běijīng.

    Chúng tôi đi tàu hỏa đến Bắc Kinh.

  • “票”字怎么写?

    “Piào” zì zěnme xiě?

    Chữ “phiếu” (vé) viết thế nào?

So với tiếng Việt

Tiếng Việt: “Tôi đi Bắc Kinh bằng máy bay” (phương tiện ở cuối). Tiếng Trung đưa lên trước: 我坐飞机去北京. Đừng dịch “bằng” thành 用 hay 在 – chỉ cần 坐.

Trong bài: Đi lại, phương tiện – ôn tập

了 sau động từ – đã làm (xong)

Chủ ngữ + động từ + 了 + (số lượng) + tân ngữ / Chủ ngữ + 没 + động từ

了 đứng ngay sau động từ cho biết hành động đã xảy ra, đã hoàn thành. Khi có tân ngữ, tân ngữ thường kèm số lượng: 我买了两张票. Hỏi: ……了吗? hoặc ……了没有? Phủ định: 没 + động từ và BỎ 了: 我没买票.

  • 我买了三张火车票。

    Wǒ mǎi le sān zhāng huǒchēpiào.

    Tôi đã mua ba vé tàu hỏa.

  • 你吃饭了吗?——吃了。

    Nǐ chī fàn le ma? —— Chī le.

    Bạn ăn cơm chưa? – Ăn rồi.

  • 昨天我没去学校。

    Zuótiān wǒ méi qù xuéxiào.

    Hôm qua tôi không đi học.

So với tiếng Việt

Lỗi điển hình: 我没去了 (vừa 没 vừa 了) – phải bỏ 了: 我没去. Đừng thấy chuyện quá khứ là thêm 了: thói quen trong quá khứ (以前我常常去) hay 是 không dùng 了.

Trong bài: Đi lại, phương tiện – ôn tập

Phân biệt 不 và 没 – ôn tập phủ định

不 + động từ / tính từ (hiện tại, tương lai, ý muốn) / 没 + động từ (chưa, đã không) · 没有 (không có)

不 phủ định ý muốn, thói quen, sự thật, tương lai và tính từ: 我不去 (tôi không đi – không muốn đi), 不贵. 没 phủ định việc đã xảy ra hoặc chưa xảy ra: 我没去 (tôi đã không đi / chưa đi). Với 有 luôn dùng 没有. Với 是, 会, 能, 想, 喜欢, 知道 dùng 不.

  • 明天我不坐地铁。

    Míngtiān wǒ bù zuò dìtiě.

    Mai tôi không đi tàu điện ngầm.

  • 昨天我没坐地铁,我打车了。

    Zuótiān wǒ méi zuò dìtiě, wǒ dǎchē le.

    Hôm qua tôi không đi tàu điện ngầm, tôi đi taxi.

  • 他没有票,不能去。

    Tā méiyǒu piào, bù néng qù.

    Anh ấy không có vé, không đi được.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt đều dùng “không”, nên hãy tự hỏi: việc đó ĐÃ xảy ra chưa? Nói về quá khứ hoặc “chưa” → 没; nói ý muốn, thói quen, tương lai → 不. Mẹo nhớ: “chưa” luôn là 没.

Trong bài: Đi lại, phương tiện – ôn tập

HSK 2Sơ cấp 2

正在 / 在 … 呢 – đang làm gì

Chủ ngữ + (正)在 + động từ (+ tân ngữ) + (呢)

Đặt 在 hoặc 正在 trước động từ để nói hành động đang diễn ra; thêm 呢 ở cuối câu cho tự nhiên, thân mật. Cũng có thể chỉ dùng 呢: 他睡觉呢 (anh ấy đang ngủ). Phủ định dùng 没(在) + động từ.

  • 我在刷牙呢。

    Wǒ zài shuā yá ne.

    Mình đang đánh răng.

  • 妈妈正在做饭。

    Māma zhèngzài zuò fàn.

    Mẹ đang nấu cơm.

  • 他没在看电视,他在学习呢。

    Tā méi zài kàn diànshì, tā zài xuéxí ne.

    Cậu ấy không xem tivi, cậu ấy đang học.

So với tiếng Việt

在 ở đây giống “đang” trong tiếng Việt, đứng ngay trước động từ. Lỗi hay gặp: thêm 了 vào câu đang diễn ra (我在吃饭了 – sai) và phủ định bằng 不 (我不在吃饭 – sai), phải nói 我没在吃饭.

Trong bài: Thói quen hằng ngày

就 và 才 – sớm hay muộn

Thời gian + 就 + động từ + 了 / Thời gian + 才 + động từ

就 cho thấy việc xảy ra sớm, nhanh, dễ hơn người nói nghĩ (“đã… rồi”). 才 cho thấy việc xảy ra muộn, chậm, khó hơn dự tính (“mới”). Câu có 就 thường kết thúc bằng 了; câu có 才 thì không dùng 了.

  • 我六点就起床了。

    Wǒ liù diǎn jiù qǐchuáng le.

    Mới 6 giờ mình đã dậy rồi.

  • 他九点才起床。

    Tā jiǔ diǎn cái qǐchuáng.

    9 giờ anh ấy mới dậy.

  • 电影七点开始,她六点半就到了。

    Diànyǐng qī diǎn kāishǐ, tā liù diǎn bàn jiù dào le.

    Phim 7 giờ mới chiếu, 6 rưỡi cô ấy đã đến rồi.

  • 我等了半个小时,他才来。

    Wǒ děng le bàn ge xiǎoshí, tā cái lái.

    Mình đợi nửa tiếng anh ấy mới đến.

So với tiếng Việt

Dễ nhớ: 就 ≈ “đã… rồi” (sớm), 才 ≈ “mới” (muộn). Người Việt hay viết 他九点才起床了 vì quen thêm “rồi” – câu có 才 không được có 了 ở cuối.

Trong bài: Thói quen hằng ngày

先…然后… – trước… sau đó…

Chủ ngữ + 先 + việc 1,然后 (+ 再) + việc 2

Dùng để kể các việc theo thứ tự. 先 đứng sau chủ ngữ, trước động từ thứ nhất; 然后 mở đầu vế sau, có thể thêm 再 trước động từ thứ hai.

  • 我先刷牙,然后洗脸。

    Wǒ xiān shuā yá, ránhòu xǐ liǎn.

    Mình đánh răng trước, sau đó rửa mặt.

  • 你先吃早饭,然后再出门。

    Nǐ xiān chī zǎofàn, ránhòu zài chūmén.

    Con ăn sáng trước rồi hãy ra khỏi nhà.

  • 下班以后,他先去超市,然后回家。

    Xiàbān yǐhòu, tā xiān qù chāoshì, ránhòu huí jiā.

    Tan làm, anh ấy ghé siêu thị trước rồi mới về nhà.

So với tiếng Việt

先 phải đứng sau chủ ngữ: nói 我先走, không nói 先我走. Tiếng Việt hay nối bằng “rồi”, nhưng đừng dịch “rồi” thành 了 ở giữa hai việc – hãy dùng 然后.

Trong bài: Thói quen hằng ngày

有点儿 và 一点儿 – “hơi” và “một chút”

有点儿 + tính từ / động từ chỉ cảm giác · Tính từ + 一点儿 · Động từ + 一点儿 + danh từ

有点儿 đứng TRƯỚC tính từ, nghĩa “hơi…”, thường mang ý không vừa lòng (有点儿累, 有点儿贵). 一点儿 đứng SAU tính từ để so sánh hoặc yêu cầu (“hơn một chút”: 好一点儿, 便宜一点儿), hoặc sau động từ trước danh từ (“một ít”: 喝一点儿水).

  • 我今天有点儿不舒服。

    Wǒ jīntiān yǒudiǎnr bù shūfu.

    Hôm nay mình hơi mệt trong người.

  • 今天好一点儿了吗?

    Jīntiān hǎo yīdiǎnr le ma?

    Hôm nay đỡ hơn chút nào chưa?

  • 你多喝一点儿水。

    Nǐ duō hē yīdiǎnr shuǐ.

    Bạn uống thêm chút nước đi.

So với tiếng Việt

Cả hai đều dịch là “hơi, một chút” nên người Việt hay nói 我一点儿累 (sai). Mẹo: “hơi + tính từ” → 有点儿 đứng trước; “tính từ + hơn một chút” → 一点儿 đứng sau.

Trong bài: Sức khỏe – đi khám bệnh

因为…所以… – vì… nên…

因为 + nguyên nhân,所以 + kết quả

Nối nguyên nhân và kết quả. Có thể dùng đủ cả hai, hoặc chỉ dùng một vế (chỉ 因为 hoặc chỉ 所以). Câu hỏi “vì sao” dùng 为什么, trả lời bằng 因为….

  • 因为我感冒了,所以今天没去上课。

    Yīnwèi wǒ gǎnmào le, suǒyǐ jīntiān méi qù shàngkè.

    Vì bị cảm nên hôm nay mình không đi học.

  • 因为他发烧,所以医生让他多休息。

    Yīnwèi tā fāshāo, suǒyǐ yīshēng ràng tā duō xiūxi.

    Vì anh ấy sốt nên bác sĩ bảo nghỉ ngơi nhiều.

  • 我没吃早饭,所以现在有点儿饿。

    Wǒ méi chī zǎofàn, suǒyǐ xiànzài yǒudiǎnr è.

    Mình chưa ăn sáng nên giờ hơi đói.

So với tiếng Việt

Giống hệt “vì… nên…” của tiếng Việt. Lỗi hay gặp: dịch chữ “nên” thành 应该 (应该 là “nên” theo nghĩa khuyên bảo, không phải “cho nên”).

Trong bài: Sức khỏe – đi khám bệnh

Lặp động từ – làm thử, làm một chút

Động từ 1 âm tiết: V V / V 一 V · Động từ 2 âm tiết: AB AB

Lặp lại động từ làm cho hành động nhẹ nhàng, ngắn, mang ý “thử”, “một chút”, nghe lịch sự và thân mật hơn. Động từ một âm tiết có thể chen 一 ở giữa (看一看, 试一试); âm lặp lại đọc nhẹ. Động từ hai âm tiết lặp nguyên cụm: 休息休息, 介绍介绍.

  • 这件衬衫我可以试试吗?

    Zhè jiàn chènshān wǒ kěyǐ shìshi ma?

    Mình mặc thử chiếc sơ mi này được không?

  • 你看一看,这条裤子怎么样?

    Nǐ kàn yi kàn, zhè tiáo kùzi zěnmeyàng?

    Bạn xem thử cái quần này thế nào?

  • 我们休息休息吧。

    Wǒmen xiūxi xiūxi ba.

    Mình nghỉ một chút đi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “xem thử, thử xem, nghỉ chút”, tiếng Trung lặp động từ. Động từ hai âm tiết lặp ABAB (休息休息), đừng lặp kiểu AABB (休休息息 – sai). 一 trong 看一看 đọc nhẹ, không lên thanh.

Trong bài: Quần áo – màu sắc

比 – so sánh hơn

A + 比 + B + tính từ (+ 一点儿 / 多了 / số lượng)

比 đứng giữa hai vật được so sánh, tính từ đứng cuối. Muốn nói hơn bao nhiêu thì thêm sau tính từ: 一点儿 (hơn một chút), 多了 hoặc 得多 (hơn nhiều), hoặc con số cụ thể (大三岁). Phủ định đơn giản nhất: A 不比 B + tính từ.

  • 这件比那件便宜。

    Zhè jiàn bǐ nà jiàn piányi.

    Chiếc này rẻ hơn chiếc kia.

  • 这条裙子比那条短一点儿。

    Zhè tiáo qúnzi bǐ nà tiáo duǎn yīdiǎnr.

    Váy này ngắn hơn váy kia một chút.

  • 这双鞋比那双贵多了。

    Zhè shuāng xié bǐ nà shuāng guì duō le.

    Đôi giày này đắt hơn đôi kia nhiều.

  • 哥哥比我大三岁。

    Gēge bǐ wǒ dà sān suì.

    Anh trai hơn mình ba tuổi.

So với tiếng Việt

Trật tự khác tiếng Việt: “A rẻ hơn B” → A 比 B 便宜 (比 B đứng TRƯỚC tính từ). Lỗi rất hay gặp: thêm 很, 非常 vào câu 比 (这件比那件很贵 – sai); muốn nhấn mạnh hãy dùng 多了 sau tính từ.

Trong bài: Quần áo – màu sắc

离 – cách (bao xa)

A + 离 + B + 近 / 远 · A + 离 + B + 有 + khoảng cách

离 dùng để nói khoảng cách giữa hai nơi (hoặc hai mốc thời gian). Sau B là 近, 远 hoặc một con số khoảng cách. Hỏi “có xa không” dùng 远不远 hoặc 远吗.

  • 我家离公司很近。

    Wǒ jiā lí gōngsī hěn jìn.

    Nhà mình cách công ty rất gần.

  • 这儿离地铁站远不远?

    Zhèr lí dìtiězhàn yuǎn bu yuǎn?

    Ở đây cách ga tàu điện ngầm có xa không?

  • 学校离我家有两公里。

    Xuéxiào lí wǒ jiā yǒu liǎng gōnglǐ.

    Trường cách nhà mình hai cây số.

  • 离考试还有三天。

    Lí kǎoshì hái yǒu sān tiān.

    Còn ba ngày nữa là thi.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng nhầm 从 (từ): 我家从公司很近 – sai. 从 chỉ điểm xuất phát của một hành động (从家到公司), còn “cách bao xa” phải dùng 离.

Trong bài: Nhà cửa – thuê phòng

着 – trạng thái đang duy trì

Nơi chốn + động từ + 着 + số lượng + vật · Chủ ngữ + động từ + 着

着 đặt sau động từ để tả một trạng thái đang được giữ nguyên: cửa đang mở, đèn đang bật, trên tường treo ảnh, ai đó đang mặc gì. Mẫu “Nơi chốn + V着 + vật” rất hay dùng để mô tả căn phòng. Phủ định: 没(有) + V + 着.

  • 桌子上放着两本书。

    Zhuōzi shang fàngzhe liǎng běn shū.

    Trên bàn có (đặt) hai quyển sách.

  • 门开着,空调也开着。

    Mén kāizhe, kōngtiáo yě kāizhe.

    Cửa đang mở, điều hòa cũng đang bật.

  • 墙上挂着很多照片。

    Qiáng shang guàzhe hěn duō zhàopiàn.

    Trên tường treo rất nhiều ảnh.

  • 他穿着一件蓝衬衫。

    Tā chuānzhe yī jiàn lán chènshān.

    Anh ấy đang mặc một chiếc sơ mi xanh.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt cũng nói “cửa đang mở”, nên người Việt hay dịch thành 门在开 – nghĩa là “ai đó đang mở cửa” (hành động). Trạng thái đứng yên phải dùng 门开着.

Trong bài: Nhà cửa – thuê phòng

没有…那么 – “không… bằng”

A + 没有 + B + (那么 / 这么) + tính từ

Đây là cách phủ định của câu so sánh 比: A không đạt mức của B. 那么 (hoặc 这么) nhấn mạnh mức độ, có thể bỏ. Câu này không dùng thêm 很, 非常.

  • 超市的菜没有市场的那么新鲜。

    Chāoshì de cài méiyǒu shìchǎng de nàme xīnxiān.

    Rau ở siêu thị không tươi bằng rau ngoài chợ.

  • 今天没有昨天那么热。

    Jīntiān méiyǒu zuótiān nàme rè.

    Hôm nay không nóng bằng hôm qua.

  • 我的汉语没有她的好。

    Wǒ de Hànyǔ méiyǒu tā de hǎo.

    Tiếng Trung của mình không giỏi bằng bạn ấy.

So với tiếng Việt

没有 ở đây không phải “không có” mà là “không bằng”. Đừng dùng 不比 để nói “không bằng”: 我不比她高 nghĩa là “mình không cao hơn cô ấy (có thể bằng nhau)”, còn “mình không cao bằng cô ấy” là 我没有她高.

Trong bài: Đi siêu thị – chợ

还是 và 或者 – “hay”, “hoặc”

Câu hỏi: A 还是 B? · Câu trần thuật: A 或者 B

Cả hai đều nối hai khả năng. 还是 dùng trong câu hỏi lựa chọn, bắt người nghe chọn một (câu đã là câu hỏi nên không thêm 吗). 或者 dùng trong câu trần thuật: cái này hoặc cái kia đều được.

  • 你要黄的还是绿的?

    Nǐ yào huáng de háishi lǜ de?

    Bạn lấy quả vàng hay quả xanh?

  • 我们明天去还是后天去?

    Wǒmen míngtiān qù háishi hòutiān qù?

    Chúng mình đi ngày mai hay ngày kia?

  • 刷卡或者用手机付钱都可以。

    Shuākǎ huòzhě yòng shǒujī fù qián dōu kěyǐ.

    Quẹt thẻ hoặc trả bằng điện thoại đều được.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng chữ “hay” cho cả hai trường hợp, nên người Việt hay nói 你喝茶或者咖啡? (sai). Mẹo: có dấu hỏi chờ người kia chọn → 还是; nói “cái nào cũng được” → 或者. Và đừng thêm 吗 sau câu có 还是.

Trong bài: Đi siêu thị – chợ

从…到… – từ… đến…

从 + điểm đầu + 到 + điểm cuối (+ động từ / 要 + thời gian)

从…到… nêu điểm bắt đầu và điểm kết thúc, dùng được cho cả nơi chốn lẫn thời gian. Cả cụm đứng trước động từ. Hỏi mất bao lâu: 从 A 到 B 要多长时间?

  • 从我家到公司要坐四十分钟地铁。

    Cóng wǒ jiā dào gōngsī yào zuò sìshí fēnzhōng dìtiě.

    Từ nhà mình đến công ty đi tàu điện mất 40 phút.

  • 我从八点到十二点上课。

    Wǒ cóng bā diǎn dào shí'èr diǎn shàngkè.

    Mình học từ 8 giờ đến 12 giờ.

  • 请问,从这儿到机场怎么走?

    Qǐngwèn, cóng zhèr dào jīchǎng zěnme zǒu?

    Xin hỏi, từ đây đến sân bay đi thế nào?

So với tiếng Việt

Thứ tự “từ… đến…” giống tiếng Việt, nhưng cả cụm phải đứng TRƯỚC động từ: 我从八点到十二点上课, không nói 我上课从八点到十二点 như kiểu “mình học từ 8 đến 12 giờ”.

Trong bài: Giao thông – đi lại trong thành phố

要…了 / 快要…了 / 就要…了 – sắp… rồi

(快 / 就) 要 + động từ / tính từ + 了 · 快 + động từ + 了

Diễn tả việc sắp xảy ra; cuối câu luôn có 了. 快要…了 và 快…了 nhấn mạnh “rất gần rồi”. Khi trong câu có mốc thời gian cụ thể (明天, 下个月, 十点) thì dùng 就要…了, không dùng 快要…了.

  • 地铁快到站了。

    Dìtiě kuài dào zhàn le.

    Tàu sắp vào ga rồi.

  • 要下雨了,带伞吧。

    Yào xià yǔ le, dài sǎn ba.

    Sắp mưa rồi, mang ô đi.

  • 飞机快要起飞了。

    Fēijī kuàiyào qǐfēi le.

    Máy bay sắp cất cánh rồi.

  • 我们明天就要考试了。

    Wǒmen míngtiān jiù yào kǎoshì le.

    Ngày mai chúng mình thi rồi.

So với tiếng Việt

Người Việt hay quên 了 cuối câu vì tiếng Việt có thể nói “sắp mưa” trơn. Lỗi thứ hai: 明天快要考试了 – có mốc thời gian thì phải đổi thành 明天就要考试了.

Trong bài: Giao thông – đi lại trong thành phố

Bổ ngữ kết quả: 完, 好, 到, 懂, 错, 见

Động từ + 完 / 好 / 到 / 懂 / 错 / 见 (+ 了) · Phủ định: 没 + động từ + bổ ngữ

Bổ ngữ kết quả đứng ngay sau động từ, cho biết hành động dẫn tới kết quả gì: 做完 (làm xong), 准备好 (chuẩn bị xong, ổn thỏa), 找到 (tìm thấy), 听懂 (nghe hiểu), 写错 (viết sai), 看见 (nhìn thấy). Động từ và bổ ngữ dính liền, 了 và tân ngữ đứng sau cả cụm. Phủ định luôn dùng 没, không dùng 不.

  • 我做完作业了。

    Wǒ zuòwán zuòyè le.

    Mình làm xong bài tập rồi.

  • 老师说的话,你听懂了吗?

    Lǎoshī shuō de huà, nǐ tīngdǒng le ma?

    Lời cô nói, bạn nghe hiểu chưa?

  • 我找到那本词典了。

    Wǒ zhǎodào nà běn cídiǎn le.

    Mình tìm thấy quyển từ điển đó rồi.

  • 我还没准备好。

    Wǒ hái méi zhǔnbèi hǎo.

    Mình vẫn chưa chuẩn bị xong.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt cũng có “làm xong, nghe hiểu, tìm thấy”, nên người Việt dễ học phần này. Lỗi hay gặp: chỉ nói 我听了 khi muốn nói “nghe hiểu rồi” (听 chỉ là nghe, chưa chắc hiểu); và phủ định sai thành 不听懂 – phải nói 没听懂.

Trong bài: Học tiếng Trung

Phân biệt 会, 能, 可以 (mở rộng từ HSK 1)

会 + V (kỹ năng học được) · 能 + V (khả năng, điều kiện) · 可以 + V (được phép)

HSK 1 đã học 会 và 能; bài này thêm 可以 và phân biệt kỹ cả ba. 会 nói về kỹ năng phải học mới biết (会说汉语, 会游泳), còn có nghĩa “sẽ” (dự đoán). 能 nói về năng lực, điều kiện khách quan cho phép làm được (今天我能去 – hôm nay mình đi được; 能看懂 – đọc hiểu được). 可以 nói về sự cho phép (这儿可以拍照吗?). Khi xin phép, 能 và 可以 đều dùng được; nhưng từ chối sự cho phép thường nói 不可以 hoặc 不能.

  • 我会写三百个汉字。

    Wǒ huì xiě sānbǎi ge Hànzì.

    Mình biết viết 300 chữ Hán.

  • 我感冒了,明天不能去上课。

    Wǒ gǎnmào le, míngtiān bù néng qù shàngkè.

    Mình bị cảm, mai không đi học được.

  • 考试的时候不可以查词典。

    Kǎoshì de shíhou bù kěyǐ chá cídiǎn.

    Khi thi không được tra từ điển.

  • 她一分钟能写二十个字。

    Tā yī fēnzhōng néng xiě èrshí ge zì.

    Một phút cô ấy viết được 20 chữ.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng “biết”, “được”, “có thể” khá tự do nên người Việt hay nhầm. Mẹo: “biết (vì đã học)” → 会; “làm được (đủ sức, đủ điều kiện)” → 能; “được phép” → 可以. Nói 我能说汉语 không sai nhưng ý là “đủ khả năng nói (vd sau khi khỏi ốm)”; muốn khoe biết tiếng Trung thì dùng 我会说汉语.

Trong bài: Học tiếng Trung

Bổ ngữ trình độ 得 – làm việc gì “thế nào”

Chủ ngữ + động từ + 得 + (很 / 不) + tính từ · Chủ ngữ + (động từ) + tân ngữ + động từ + 得 + tính từ

Dùng 得 sau động từ để nhận xét hành động được làm ra sao (nhanh, chậm, giỏi, tốt...). Nếu động từ có tân ngữ thì phải lặp lại động từ (说汉语说得很好) hoặc đưa tân ngữ lên trước (汉语说得很好). Phủ định đặt 不 trước tính từ: 说得不好. Hỏi: 说得怎么样? hoặc 说得好不好?

  • 她工作得很认真。

    Tā gōngzuò de hěn rènzhēn.

    Cô ấy làm việc rất nghiêm túc.

  • 他说汉语说得很流利。

    Tā shuō Hànyǔ shuō de hěn liúlì.

    Anh ấy nói tiếng Trung rất lưu loát.

  • 我字写得不好看。

    Wǒ zì xiě de bù hǎokàn.

    Chữ mình viết không đẹp.

  • 你昨天睡得怎么样?

    Nǐ zuótiān shuì de zěnmeyàng?

    Hôm qua bạn ngủ có ngon không?

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “anh ấy nói tiếng Trung rất giỏi”, người Việt dịch thẳng thành 他说汉语很好 (thiếu 得) hoặc 他说得汉语很好 (sai vị trí). Nhớ: tân ngữ không được chen giữa 得 và tính từ, phải lặp động từ: 说汉语说得很好.

Trong bài: Công việc – nghề nghiệp

虽然…但是… – tuy… nhưng…

(Chủ ngữ) 虽然 + A,但是 / 可是 + B

Nêu một sự thật (A) và một ý trái ngược (B). 虽然 đứng trước hoặc sau chủ ngữ của vế đầu; 但是 (hoặc 可是) mở đầu vế sau. Có thể bỏ 虽然, nhưng không nên bỏ 但是.

  • 虽然工资不高,但是我很喜欢这个工作。

    Suīrán gōngzī bù gāo, dànshì wǒ hěn xǐhuan zhège gōngzuò.

    Tuy lương không cao nhưng mình rất thích công việc này.

  • 他虽然很年轻,但是经验很多。

    Tā suīrán hěn niánqīng, dànshì jīngyàn hěn duō.

    Anh ấy tuy còn trẻ nhưng nhiều kinh nghiệm.

  • 虽然要加班,但是同事们都很高兴。

    Suīrán yào jiābān, dànshì tóngshìmen dōu hěn gāoxìng.

    Tuy phải tăng ca nhưng các đồng nghiệp đều vui vẻ.

So với tiếng Việt

Giống hệt “tuy… nhưng…”. Lỗi thường gặp là bỏ 但是 vì tiếng Việt nói gọn “Tuy mệt, mình vẫn vui”: tiếng Trung nên giữ 但是. Lưu ý 虽然 đọc suīrán, Hán Việt “tuy nhiên” nhưng nghĩa chỉ là “tuy”.

Trong bài: Công việc – nghề nghiệp

过 – đã từng (kinh nghiệm)

Chủ ngữ + động từ + 过 (+ tân ngữ) · Phủ định: 没(有) + động từ + 过 · Hỏi: …过…吗?/ …过…没有?

过 đặt ngay sau động từ để nói một việc đã từng xảy ra trong quá khứ, nay thành kinh nghiệm (không nhất thiết biết lúc nào). 过 đọc nhẹ “guo”. Phủ định là 没(有)…过, ý “chưa từng, chưa bao giờ”; khi phủ định vẫn giữ 过. Có thể thêm số lần: 去过两次.

  • 我去过三次上海。

    Wǒ qùguo sān cì Shànghǎi.

    Mình đã đi Thượng Hải ba lần.

  • 你吃过北京烤鸭吗?

    Nǐ chīguo Běijīng kǎoyā ma?

    Bạn đã ăn vịt quay Bắc Kinh bao giờ chưa?

  • 我从来没坐过船。

    Wǒ cónglái méi zuòguo chuán.

    Mình chưa từng đi thuyền bao giờ.

So với tiếng Việt

过 ≈ “đã từng”, 了 ≈ “đã (xong việc lần này)”. 我去了北京 = mình đã đi Bắc Kinh (chuyến cụ thể); 我去过北京 = mình từng đến Bắc Kinh (kinh nghiệm). Lỗi hay gặp: bỏ 过 khi phủ định (我没去北京 = mình đã không đi Bắc Kinh), muốn nói “chưa từng đi” phải là 我没去过北京.

Trong bài: Kỳ nghỉ – du lịch

Động lượng từ 次, 遍 – làm mấy lần

Động từ + (了 / 过) + số + 次 / 遍 + tân ngữ thường · Động từ + (了 / 过) + tân ngữ là đại từ / nơi chốn + số + 次

Muốn nói làm bao nhiêu lần, đặt “số + 次/遍” sau động từ (và sau 了, 过). Tân ngữ là danh từ thường thì đứng sau cụm số lần (看过两次电影); tân ngữ là đại từ thì đứng trước (见过他一次); tên địa danh đứng trước hay sau đều được.

  • 这个电影我看过两遍。

    Zhège diànyǐng wǒ kànguo liǎng biàn.

    Bộ phim này mình xem trọn hai lần rồi.

  • 我见过他一次。

    Wǒ jiànguo tā yī cì.

    Mình gặp anh ấy một lần rồi.

  • 他去过中国三次。

    Tā qùguo Zhōngguó sān cì.

    Anh ấy đã đi Trung Quốc ba lần.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt có thể nói “ba lần đi Trung Quốc” hay “đi Trung Quốc ba lần”; tiếng Trung không đặt số lần trước động từ (三次去中国 – sai). Với đại từ, đừng nói 见过一次他.

Trong bài: Kỳ nghỉ – du lịch

一边…一边… – vừa… vừa…

Chủ ngữ + 一边 + động từ 1,一边 + động từ 2

Diễn tả hai hành động diễn ra cùng lúc do cùng một người làm. Sau 一边 phải là động từ (hoặc cụm động từ), không dùng tính từ. Khi nói nhanh có thể rút gọn thành 边…边….

  • 我喜欢一边跑步,一边听音乐。

    Wǒ xǐhuan yībiān pǎobù, yībiān tīng yīnyuè.

    Mình thích vừa chạy bộ vừa nghe nhạc.

  • 我们一边看比赛,一边喝啤酒。

    Wǒmen yībiān kàn bǐsài, yībiān hē píjiǔ.

    Chúng mình vừa xem trận đấu vừa uống bia.

  • 别一边吃饭一边看手机。

    Bié yībiān chī fàn yībiān kàn shǒujī.

    Đừng vừa ăn cơm vừa xem điện thoại.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “vừa… vừa…” dùng được cả với tính từ (vừa rẻ vừa đẹp), nhưng 一边…一边… chỉ đi với động từ. “Vừa rẻ vừa đẹp” phải nói 又便宜又好看 (又…又…).

Trong bài: Thể thao – vận động

再 và 又 – “lại”, “nữa”

又 + động từ + 了 (đã lặp lại) · 再 + động từ (sẽ lặp lại, chưa xảy ra)

Cả hai đều chỉ hành động lặp lại. 又 dùng cho việc ĐÃ lặp lại (thường có 了 ở cuối), hoặc việc chắc chắn lặp theo quy luật (明天又是星期一了). 再 dùng cho việc SẼ lặp lại, chưa xảy ra: mời, hẹn, yêu cầu làm lại (再来一次, 明天再说). 再 còn có nghĩa “rồi hãy” (吃了饭再去).

  • 他昨天去游泳了,今天又去了。

    Tā zuótiān qù yóuyǒng le, jīntiān yòu qù le.

    Hôm qua anh ấy đi bơi, hôm nay lại đi nữa.

  • 这次输了,下次再来!

    Zhè cì shū le, xià cì zài lái!

    Lần này thua rồi, lần sau làm lại!

  • 你先休息一下,再跑吧。

    Nǐ xiān xiūxi yīxià, zài pǎo ba.

    Bạn nghỉ một chút rồi hãy chạy tiếp.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng chung “lại” nên người Việt hay nói 明天我又来 (sai) – việc chưa xảy ra phải dùng 再: 明天我再来. Mẹo: đã xảy ra → 又 (thường kèm 了); sắp xảy ra → 再.

Trong bài: Thể thao – vận động

是…的 – nhấn mạnh thời gian, nơi chốn, cách thức

Chủ ngữ + (是) + thời gian / nơi chốn / cách thức / người làm + động từ + 的

Khi cả hai bên đã biết việc đó ĐÃ xảy ra, dùng 是…的 để hỏi hoặc nhấn mạnh chi tiết: lúc nào, ở đâu, với ai, bằng cách nào. Phần được nhấn mạnh đứng ngay sau 是; 的 đứng cuối câu (hoặc trước tân ngữ). 是 có thể lược ở câu khẳng định, nhưng phủ định phải có 不是…的.

  • 你是什么时候来的?

    Nǐ shì shénme shíhou lái de?

    Bạn đến lúc nào thế?

  • 这个蛋糕是我妈妈做的。

    Zhège dàngāo shì wǒ māma zuò de.

    Bánh kem này là mẹ mình làm đấy.

  • 我们是坐飞机去的,不是坐火车去的。

    Wǒmen shì zuò fēijī qù de, bù shì zuò huǒchē qù de.

    Chúng mình đi bằng máy bay, không phải tàu hỏa.

  • 他是在中国学的汉语。

    Tā shì zài Zhōngguó xué de Hànyǔ.

    Anh ấy học tiếng Trung ở Trung Quốc.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng 了 cho mọi việc quá khứ: 你什么时候来了? là sai khi hỏi về thời điểm. Việc đã xảy ra, hỏi “lúc nào, ở đâu, bằng gì” → dùng 是…的. Cấu trúc này giống cách nói “là… đấy” trong tiếng Việt: “Bánh này là mẹ làm đấy”.

Trong bài: Lễ tết, sinh nhật

让 – bảo, khiến (câu kiêm ngữ)

A + 让 + B + động từ / tính từ

让 có hai cách dùng chính: (1) A bảo, cho phép B làm gì (妈妈让我回家); (2) A khiến B cảm thấy thế nào (这件事让我很高兴). B vừa là tân ngữ của 让 vừa là chủ ngữ của động từ / tính từ phía sau. Phủ định đặt 不 / 没 trước 让.

  • 老师让我们回家复习。

    Lǎoshī ràng wǒmen huí jiā fùxí.

    Thầy bảo chúng mình về nhà ôn bài.

  • 这个礼物让她非常高兴。

    Zhège lǐwù ràng tā fēicháng gāoxìng.

    Món quà này khiến cô ấy vô cùng vui.

  • 爸爸不让我晚上一个人出门。

    Bàba bù ràng wǒ wǎnshang yī ge rén chūmén.

    Bố không cho mình ra ngoài một mình buổi tối.

So với tiếng Việt

Giống “bảo / để / làm cho” trong tiếng Việt, trật tự y hệt. Lỗi hay gặp: phủ định sai chỗ 爸爸让我不出门 (nghĩa là “bố bảo mình đừng ra ngoài”) khi muốn nói “bố không cho mình ra ngoài” → 爸爸不让我出门.

Trong bài: Lễ tết, sinh nhật

Bổ ngữ thời lượng – làm việc gì trong bao lâu

Động từ + 了 + thời lượng (+ 的) + tân ngữ · Động từ + tân ngữ + động từ + 了 + thời lượng

Thời lượng (一个小时, 三天, 两年...) đứng SAU động từ để nói hành động kéo dài bao lâu. Nếu có tân ngữ, đặt thời lượng giữa động từ và tân ngữ (学了两年汉语), hoặc lặp động từ (学汉语学了两年); riêng tân ngữ là đại từ thì đứng trước thời lượng (等了他半个小时). Thêm 了 ở cuối câu nghĩa là việc vẫn đang tiếp tục đến giờ.

  • 我等了他半个小时。

    Wǒ děng le tā bàn ge xiǎoshí.

    Mình đợi anh ấy nửa tiếng.

  • 她学了两年汉语。

    Tā xué le liǎng nián Hànyǔ.

    Cô ấy học tiếng Trung hai năm.

  • 我在中国住了三年了。

    Wǒ zài Zhōngguó zhù le sān nián le.

    Mình sống ở Trung Quốc được ba năm rồi (vẫn đang sống).

  • 昨天我看电视看了两个小时。

    Zuótiān wǒ kàn diànshì kàn le liǎng ge xiǎoshí.

    Hôm qua mình xem tivi hai tiếng.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt đôi khi nói “mình hai tiếng đợi anh ấy”, nhưng tiếng Trung không bao giờ đặt thời lượng trước động từ: 我两个小时等他 – sai. Nhớ: thời ĐIỂM đứng trước động từ (我八点来), thời LƯỢNG đứng sau động từ (我等了一个小时).

Trong bài: Kể chuyện trải nghiệm

不但…而且… – không những… mà còn…

Chủ ngữ + 不但 + A,而且 (+ 也 / 还) + B

Dùng để tăng tiến: B đi xa hơn A. Nếu hai vế cùng một chủ ngữ, chủ ngữ đứng trước 不但. Vế sau hay có thêm 也 hoặc 还.

  • 他不但帮我找到了钱包,而且送我回了家。

    Tā bùdàn bāng wǒ zhǎodào le qiánbāo, érqiě sòng wǒ huí le jiā.

    Anh ấy không những giúp mình tìm lại ví mà còn đưa mình về nhà.

  • 这个地方不但风景美,而且东西也便宜。

    Zhège dìfang bùdàn fēngjǐng měi, érqiě dōngxi yě piányi.

    Nơi này không những cảnh đẹp mà đồ cũng rẻ.

  • 她不但是我的老师,而且是我的好朋友。

    Tā bùdàn shì wǒ de lǎoshī, érqiě shì wǒ de hǎo péngyou.

    Cô ấy không chỉ là cô giáo mà còn là bạn thân của mình.

So với tiếng Việt

Giống “không những… mà còn…”. Lỗi hay gặp: đặt chủ ngữ sau 不但 khi hai vế cùng chủ ngữ (不但他会说… – không tự nhiên); đúng là 他不但会说…,而且….

Trong bài: Kể chuyện trải nghiệm

越来越 – càng ngày càng

Chủ ngữ + 越来越 + tính từ / động từ tâm lý (+ 了)

Diễn tả mức độ tăng dần theo thời gian. Sau 越来越 là tính từ hoặc động từ chỉ tâm lý (喜欢, 想...). Không thêm 很, 非常 sau 越来越; cuối câu hay có 了.

  • 我的汉语越来越好了。

    Wǒ de Hànyǔ yuèláiyuè hǎo le.

    Tiếng Trung của mình ngày càng tốt lên.

  • 天气越来越热。

    Tiānqì yuèláiyuè rè.

    Thời tiết ngày càng nóng.

  • 我越来越喜欢这个城市了。

    Wǒ yuèláiyuè xǐhuan zhège chéngshì le.

    Mình càng ngày càng thích thành phố này.

So với tiếng Việt

Người Việt hay thêm 很 như “càng ngày càng rất đẹp”: 越来越很漂亮 – sai. 越来越 đã chỉ mức độ rồi, đặt thẳng tính từ phía sau.

Trong bài: Kể chuyện trải nghiệm

HSK 3Sơ cấp 3

对…来说 – đối với ai mà nói

对 + người/nhóm người + 来说,nhận xét

Dùng để nêu đánh giá, quan điểm đứng từ góc nhìn của một người hay một nhóm người, giống “đối với… mà nói”, “với… thì”. Cụm này thường đứng đầu câu, sau có dấu phẩy. Phải có đủ hai phần 对 và 来说.

  • 对学生来说,经验比工资更重要。

    Duì xuésheng lái shuō, jīngyàn bǐ gōngzī gèng zhòngyào.

    Với sinh viên, kinh nghiệm quan trọng hơn tiền lương.

  • 对他来说,说汉语一点儿也不难。

    Duì tā lái shuō, shuō Hànyǔ yīdiǎnr yě bù nán.

    Với anh ấy, nói tiếng Trung chẳng khó chút nào.

  • 对这家公司来说,准时最重要。

    Duì zhè jiā gōngsī lái shuō, zhǔnshí zuì zhòngyào.

    Với công ty này, đúng giờ là quan trọng nhất.

So với tiếng Việt

Người Việt hay bỏ 来说 (nói “对我,…”). Cũng đừng nhầm với 对 + người + 说 (nói với ai): 他对我说… = anh ấy nói với tôi, còn 对我来说… = đối với tôi thì…

Trong bài: Phỏng vấn tìm việc làm thêm

只要…就… – chỉ cần… là…

只要 + điều kiện,(chủ ngữ) + 就 + kết quả

Nêu điều kiện đủ: chỉ cần có điều kiện này là sẽ có kết quả kia, giọng nhẹ nhàng, dễ dãi. 只要 có thể đứng trước hoặc sau chủ ngữ vế đầu; 就 luôn đứng sau chủ ngữ vế sau, trước động từ.

  • 只要你有时间,就可以来面试。

    Zhǐyào nǐ yǒu shíjiān, jiù kěyǐ lái miànshì.

    Chỉ cần bạn có thời gian là có thể đến phỏng vấn.

  • 只要认真工作,工资就会提高。

    Zhǐyào rènzhēn gōngzuò, gōngzī jiù huì tígāo.

    Chỉ cần làm việc chăm chỉ, lương sẽ tăng.

  • 只要你会说汉语,我们就要你。

    Zhǐyào nǐ huì shuō Hànyǔ, wǒmen jiù yào nǐ.

    Chỉ cần bạn biết nói tiếng Trung là chúng tôi nhận bạn.

So với tiếng Việt

Người Việt hay đặt 就 trước chủ ngữ theo kiểu “thì chúng tôi…”: 只要你来,就我们… là sai. 就 là phó từ nên phải đứng sau chủ ngữ: 我们就….

Trong bài: Phỏng vấn tìm việc làm thêm

首先…其次… – trước hết… tiếp theo…

首先,ý 1;其次,ý 2;(最后,ý 3)

Dùng để liệt kê lý do, ưu điểm hay các bước theo thứ tự quan trọng, rất hợp khi trả lời phỏng vấn hoặc trình bày ý kiến. 首先 và 其次 thường đứng đầu vế câu, sau có dấu phẩy; ý cuối có thể mở đầu bằng 最后. Khác 先…然后… (kể trình tự hành động đã học ở HSK 2), 首先…其次… sắp xếp các ý, các điểm.

  • 首先,我很准时;其次,我工作很主动。

    Shǒuxiān, wǒ hěn zhǔnshí; qícì, wǒ gōngzuò hěn zhǔdòng.

    Trước hết, tôi rất đúng giờ; tiếp theo, tôi làm việc rất chủ động.

  • 找工作,首先要看自己适合做什么,其次才是工资。

    Zhǎo gōngzuò, shǒuxiān yào kàn zìjǐ shìhé zuò shénme, qícì cái shì gōngzī.

    Tìm việc, trước hết phải xem mình hợp làm gì, sau đó mới đến tiền lương.

  • 首先请介绍一下你自己,其次说说你的经验。

    Shǒuxiān qǐng jièshào yīxià nǐ zìjǐ, qícì shuōshuo nǐ de jīngyàn.

    Trước hết hãy giới thiệu bản thân, tiếp theo nói về kinh nghiệm của bạn.

So với tiếng Việt

Người Việt hay nói “thứ nhất…, thứ hai…” rồi dịch thành 第一…第二…; cách này cũng đúng nhưng 首先…其次… nghe tự nhiên và trang trọng hơn khi phỏng vấn. Đừng dùng 首先 để kể hai hành động nối tiếp nhau hằng ngày (首先吃饭,其次上班 ✗) — trường hợp đó dùng 先…然后….

Trong bài: Phỏng vấn tìm việc làm thêm

Câu chữ 把 – xử lý một đối tượng

Chủ ngữ + 把 + tân ngữ (xác định) + động từ + thành phần khác

把 đưa tân ngữ lên trước động từ để nhấn mạnh việc ta làm gì với đối tượng đó và kết quả ra sao. Sau động từ không được để trơn: phải có 了, bổ ngữ, 一下, hoặc động từ lặp lại. Tân ngữ của 把 là vật xác định, hai bên đều biết. Phủ định 没/不/别 đặt trước 把.

  • 请把垃圾扔了。

    Qǐng bǎ lājī rēng le.

    Bạn đem rác đi vứt nhé.

  • 我把房间收拾干净了。

    Wǒ bǎ fángjiān shōushi gānjìng le.

    Tôi đã dọn phòng sạch sẽ rồi.

  • 你别把钥匙忘在宿舍里。

    Nǐ bié bǎ yàoshi wàng zài sùshè li.

    Đừng để quên chìa khóa trong ký túc xá.

  • 他没把窗户关上。

    Tā méi bǎ chuānghu guānshang.

    Cậu ấy chưa đóng cửa sổ.

So với tiếng Việt

Có thể nghĩ 把 ≈ “đem/lấy… (mà làm gì)”: 把垃圾扔了 = đem rác đi vứt. Lỗi hay gặp: thiếu phần sau động từ (我把房间收拾 ✗), tân ngữ không xác định (我把一本书看了 ✗), hoặc dùng 把 với động từ không tác động như 喜欢, 知道, 有, 是.

Trong bài: Ở ký túc xá – bạn cùng phòng

Lặp tính từ AA / AABB – 干干净净, 整整齐齐

A → AA (的) ; AB → AABB (的)

Tính từ một âm tiết lặp thành AA (好好, 慢慢), tính từ hai âm tiết lặp thành AABB (干干净净, 整整齐齐, 安安静静) để miêu tả sinh động, nhấn mạnh mức độ. Dạng lặp làm vị ngữ hoặc định ngữ thường thêm 的 (房间干干净净的), làm bổ ngữ sau 得 cũng rất hay gặp (收拾得整整齐齐). Dạng lặp đã mang mức độ cao nên không thêm 很, 非常, 太.

  • 她把房间整理得干干净净的。

    Tā bǎ fángjiān zhěnglǐ de gāngānjìngjìng de.

    Cô ấy dọn phòng sạch tinh tươm.

  • 书架上的书放得整整齐齐。

    Shūjià shang de shū fàng de zhěngzhěngqíqí.

    Sách trên giá xếp ngay ngắn thẳng hàng.

  • 晚上十一点以后,宿舍里安安静静的。

    Wǎnshang shíyī diǎn yǐhòu, sùshè li ān'ānjìngjìng de.

    Sau 11 giờ đêm, ký túc xá yên ắng hẳn.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt cũng có từ láy (sạch sẽ, gọn gàng), nhưng tiếng Trung lặp nguyên từng chữ: 干净 → 干干净净, không phải 干净干净 ✗ (ABAB là cách lặp động từ: 休息休息). Không nói 很干干净净 ✗.

Trong bài: Ở ký túc xá – bạn cùng phòng

一点儿也不/没 – không… chút nào

一点儿 + (danh từ) + 也/都 + 不/没 + động từ/tính từ

Phủ định hoàn toàn, nhấn mạnh “chẳng… chút nào”. Với tính chất, thói quen dùng 不; với việc đã (không) xảy ra dùng 没. Có thể chen danh từ vào giữa: 一点儿东西也没吃.

  • 我的室友一点儿也不吵。

    Wǒ de shìyǒu yīdiǎnr yě bù chǎo.

    Bạn cùng phòng của tôi không ồn ào chút nào.

  • 他的房间一点儿也不乱。

    Tā de fángjiān yīdiǎnr yě bù luàn.

    Phòng cậu ấy chẳng bừa chút nào.

  • 我今天一点儿东西也没吃。

    Wǒ jīntiān yīdiǎnr dōngxi yě méi chī.

    Hôm nay tôi chưa ăn chút gì cả.

So với tiếng Việt

Đừng dịch sát “không… một chút nào” thành 不一点儿 ✗. 一点儿 luôn đứng TRƯỚC 也/都 + 不/没. Phân biệt thêm: 有点儿 + tính từ (hơi…, thường ý chê) khác tính từ + 一点儿 (… hơn một chút).

Trong bài: Ở ký túc xá – bạn cùng phòng

Bổ ngữ xu hướng đơn 来/去

Động từ + 来/去 ; Động từ + nơi chốn + 来/去

来 cho biết hành động hướng về phía người nói, 去 cho biết hành động rời xa người nói. Tân ngữ chỉ nơi chốn bắt buộc đứng giữa động từ và 来/去 (回宿舍去, 上楼来). Tân ngữ chỉ vật có thể đứng trước hoặc sau 来/去 (带来一本书 / 带一本书来). 来/去 làm bổ ngữ thường đọc nhẹ.

  • 快递员把包裹送来了。

    Kuàidìyuán bǎ bāoguǒ sònglai le.

    Nhân viên giao hàng đã mang gói hàng đến rồi.

  • 你下来拿一下快递吧。

    Nǐ xiàlai ná yīxià kuàidì ba.

    Bạn xuống đây lấy hàng đi.

  • 他已经回宿舍去了。

    Tā yǐjīng huí sùshè qu le.

    Cậu ấy đã về ký túc xá rồi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “về ký túc xá”, “lên lầu” nên người Việt hay nói 回去宿舍 ✗, 上来楼 ✗. Nhớ: nơi chốn luôn đứng TRƯỚC 来/去: 回宿舍去, 上楼来.

Trong bài: Mua sắm online – giao hàng

Bổ ngữ khả năng – 听得懂, 买不到

Động từ + 得/不 + bổ ngữ kết quả/xu hướng

Cho biết có thể hay không thể đạt được kết quả, thường do điều kiện khách quan hoặc năng lực. Khẳng định chèn 得, phủ định chèn 不 vào giữa động từ và bổ ngữ. Câu hỏi: V得C吗? hoặc V得C V不C?

  • 这本书在书店里买不到,只能在网上买。

    Zhè běn shū zài shūdiàn li mǎi bu dào, zhǐ néng zài wǎngshàng mǎi.

    Cuốn sách này ở hiệu sách không mua được, chỉ mua được trên mạng.

  • 老师说得太快,我听不懂。

    Lǎoshī shuō de tài kuài, wǒ tīng bu dǒng.

    Thầy nói nhanh quá, tôi nghe không hiểu.

  • 今天下单,明天收得到吗?

    Jīntiān xiàdān, míngtiān shōu de dào ma?

    Hôm nay đặt hàng thì mai có nhận được không?

So với tiếng Việt

Người Việt hay nói 我不能听懂 theo kiểu “không thể nghe hiểu”. Khi nói về khả năng đạt kết quả, người Trung Quốc dùng 听不懂, 买不到, 看不清楚; còn 不能 thiên về “không được phép”.

Trong bài: Mua sắm online – giao hàng

本来 và 原来 – vốn dĩ / hóa ra

本来/原来 + V… (lúc đầu), 后来… ; 原来 + sự thật vừa phát hiện ; 原来的 + danh từ

Cả hai đều có nghĩa “lúc đầu, vốn dĩ” (trái với bây giờ): 我本来/原来想买红色的,后来买了白色的. Nhưng chỉ 原来 có nghĩa “hóa ra” khi vừa phát hiện điều trước đó chưa biết: 原来是地址写错了. Khi làm định ngữ chỉ cái “cũ, ban đầu” thì dùng 原来的 (原来的价格). 本来 còn có nghĩa “lẽ ra, đương nhiên”: 本来就应该退.

  • 我本来想买红色的,后来买了白色的。

    Wǒ běnlái xiǎng mǎi hóngsè de, hòulái mǎile báisè de.

    Lúc đầu tôi định mua cái màu đỏ, sau lại mua cái màu trắng.

  • 原来快递放在楼下了,我还以为丢了呢!

    Yuánlái kuàidì fàng zài lóu xià le, wǒ hái yǐwéi diū le ne!

    Hóa ra hàng để ở dưới nhà, tôi còn tưởng mất rồi!

  • 这件上衣原来的价格是三百块,现在只要一百五。

    Zhè jiàn shàngyī yuánlái de jiàgé shì sānbǎi kuài, xiànzài zhǐ yào yībǎi wǔ.

    Giá ban đầu của chiếc áo này là 300 tệ, giờ chỉ còn 150.

So với tiếng Việt

“Hóa ra” chỉ dịch bằng 原来: 原来是你! (không nói 本来是你 ✗). Cả hai đều đứng trước động từ, có thể đứng trước hoặc sau chủ ngữ: 我本来想… / 本来我想….

Trong bài: Mua sắm online – giao hàng

Câu bị động với 被

Đối tượng + 被 + (người làm) + động từ + thành phần khác

Câu chữ 被 đưa người/vật chịu tác động lên đầu câu. Người thực hiện đứng sau 被 và có thể lược bỏ khi không biết hoặc không cần nói. Giống câu 把, sau động từ phải có thành phần khác (了, bổ ngữ…). Phủ định 没 đặt trước 被: 钱包没被偷. Câu 被 thường mang ý không như mong muốn.

  • 我的钱包被偷了。

    Wǒ de qiánbāo bèi tōu le.

    Ví của tôi bị trộm mất rồi.

  • 我的卡被取款机吞了。

    Wǒ de kǎ bèi qǔkuǎnjī tūn le.

    Thẻ của tôi bị máy rút tiền nuốt mất.

  • 他的自行车被朋友借走了。

    Tā de zìxíngchē bèi péngyou jièzǒu le.

    Xe đạp của anh ấy bị bạn mượn đi rồi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt có “bị” (ý xấu) và “được” (ý tốt), nhưng 被 phần lớn chỉ tương ứng với “bị”. Câu “Bài tập làm xong rồi” không cần 被: 作业做完了. Đừng nói 我的钱包被偷 (thiếu 了).

Trong bài: Ngân hàng – đổi tiền, chuyển tiền

如果…(的话),就… – nếu… thì…

如果 + điều kiện (+ 的话),(chủ ngữ) + 就 + kết quả

Nêu giả thiết và kết quả. 的话 ở cuối vế đầu có thể thêm hoặc bỏ. Vế sau dùng 就, đặt sau chủ ngữ. Trong khẩu ngữ có thể bỏ 如果, chỉ giữ …的话.

  • 如果你忘了密码,就去窗口问一下。

    Rúguǒ nǐ wàngle mìmǎ, jiù qù chuāngkǒu wèn yīxià.

    Nếu bạn quên mật khẩu thì ra quầy hỏi nhé.

  • 如果汇率高,我就多换一点儿。

    Rúguǒ huìlǜ gāo, wǒ jiù duō huàn yīdiǎnr.

    Nếu tỷ giá cao thì tôi đổi nhiều hơn một chút.

  • 明天有时间的话,我就陪你去银行。

    Míngtiān yǒu shíjiān dehuà, wǒ jiù péi nǐ qù yínháng.

    Mai có thời gian thì tôi đi ngân hàng cùng bạn.

So với tiếng Việt

“Thì” trong tiếng Việt đứng đầu vế sau, trước chủ ngữ; 就 thì đứng SAU chủ ngữ: 如果…,我就… (không nói 如果…,就我…).

Trong bài: Ngân hàng – đổi tiền, chuyển tiền

把 + tân ngữ + động từ + 成/给/到/在

Chủ ngữ + 把 + tân ngữ + V + 成/给/到/在 + …

Khi động từ mang thêm 成 (thành), 给 (cho), 到/在 (đến, ở) kèm một tân ngữ nữa, người Trung Quốc gần như bắt buộc dùng câu 把. Câu cho biết đối tượng bị biến đổi thành gì, được chuyển cho ai, hay được đưa đến đâu.

  • 我想把越南盾换成人民币。

    Wǒ xiǎng bǎ Yuènándùn huànchéng rénmínbì.

    Tôi muốn đổi tiền Việt sang nhân dân tệ.

  • 请把钱转给我妈妈。

    Qǐng bǎ qián zhuǎn gěi wǒ māma.

    Hãy chuyển tiền cho mẹ tôi.

  • 他把工资存到银行里了。

    Tā bǎ gōngzī cún dào yínháng li le.

    Anh ấy gửi tiền lương vào ngân hàng rồi.

So với tiếng Việt

Dịch sát tiếng Việt sẽ thành 换越南盾成人民币 ✗ hay 放钱在桌子上 ✗. Nhớ công thức: 把 + vật + V成/V在…: 把越南盾换成人民币, 把钱放在桌子上.

Trong bài: Ngân hàng – đổi tiền, chuyển tiền

Nói số ước lượng – 多, 左右, 两三

Số tròn chục + 多 + lượng từ (二十多个) ; 一 + lượng từ + 多 + danh từ (一个多星期) ; số lượng + 左右 ; 两三天, 七八个

多 nghĩa là “hơn, lẻ”. Sau số tròn chục, 多 đứng TRƯỚC lượng từ: 二十多个人, 十多天. Sau số 1–9, 多 đứng SAU lượng từ hoặc đơn vị: 一个多星期, 三十八度多. 左右 (khoảng, chừng) luôn đứng sau số lượng: 三十八度左右, 一个小时左右. Hai số liền nhau cũng chỉ ước lượng: 两三天, 七八个.

  • 我咳嗽了一个多星期了。

    Wǒ késoule yī ge duō xīngqī le.

    Tôi ho hơn một tuần nay rồi.

  • 他的体温是三十八度左右。

    Tā de tǐwēn shì sānshíbā dù zuǒyòu.

    Thân nhiệt của anh ấy khoảng 38 độ.

  • 医院里有二十多个病人在等大夫。

    Yīyuàn li yǒu èrshí duō ge bìngrén zài děng dàifu.

    Trong bệnh viện có hơn hai mươi bệnh nhân đang chờ bác sĩ.

  • 这种药吃两三天就有效果了。

    Zhè zhǒng yào chī liǎng sān tiān jiù yǒu xiàoguǒ le.

    Thuốc này uống hai ba ngày là có tác dụng.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “hai mươi mấy người”, “một tuần hơn” nên dễ đặt sai 多: 二十个多人 ✗ → 二十多个人; 一个星期多 ✗ → 一个多星期. 左右 không đứng trước số: 左右三十八度 ✗ → 三十八度左右.

Trong bài: Bệnh viện – mô tả triệu chứng

Bổ ngữ khả năng đặc biệt – 吃不下, 睡不着, 受不了

V + 得/不 + 下 / 着 (zháo) / 了 (liǎo)

Ba bổ ngữ khả năng rất hay gặp khi nói về sức khỏe. 下: còn chỗ chứa, nuốt được (吃不下 ăn không nổi). 着 (đọc zháo): đạt được điều mong muốn (睡不着 không ngủ được). 了 (đọc liǎo): làm nổi, chịu nổi (受不了 không chịu nổi, 吃不了 không ăn được/ăn không hết). Chúng chủ yếu dùng ở dạng phủ định; câu hỏi dùng V得…吗? hoặc V得…V不…?

  • 我嗓子太痛了,什么都吃不下。

    Wǒ sǎngzi tài tòng le, shénme dōu chī bu xià.

    Họng tôi đau quá, ăn gì cũng không nuốt nổi.

  • 压力太大,我晚上常常睡不着。

    Yālì tài dà, wǒ wǎnshang chángcháng shuì bu zháo.

    Áp lực lớn quá, tối tôi hay mất ngủ.

  • 牙痛得受不了,我得赶紧去看大夫。

    Yá tòng de shòu bu liǎo, wǒ děi gǎnjǐn qù kàn dàifu.

    Đau răng không chịu nổi, tôi phải mau đi khám bác sĩ.

So với tiếng Việt

Người Việt hay nói 我不能睡 (dịch “không thể ngủ”), nghe như bị cấm ngủ. Nằm mãi không ngủ được là 睡不着; ăn không nổi là 吃不下; đau không chịu nổi là 痛得受不了. Nhớ đọc đúng: 着 zháo, 了 liǎo.

Trong bài: Bệnh viện – mô tả triệu chứng

怎么 / 为什么 – hỏi nguyên nhân

Chủ ngữ + 怎么/为什么 + (不/没/又) + V…? ; 你怎么了?

为什么 hỏi lý do một cách trung tính, chờ người nghe giải thích. 怎么 khi hỏi nguyên nhân mang thêm sắc thái ngạc nhiên, khó hiểu, hay trách nhẹ (“sao lại…”). 你怎么了? là câu hỏi “bạn làm sao thế?” khi thấy ai có vẻ không ổn.

  • 你怎么了?脸色这么不好。

    Nǐ zěnme le? Liǎnsè zhème bù hǎo.

    Bạn sao thế? Sắc mặt kém thế.

  • 你怎么又着凉了?

    Nǐ zěnme yòu zháoliáng le?

    Sao bạn lại bị nhiễm lạnh nữa rồi?

  • 你为什么不去医院检查一下?

    Nǐ wèishénme bù qù yīyuàn jiǎnchá yīxià?

    Sao bạn không đi bệnh viện khám thử?

So với tiếng Việt

怎么 + động từ có hai nghĩa: 怎么去医院? = đi bệnh viện bằng cách nào; 怎么没去医院? = sao lại không đi bệnh viện. Thấy 怎么 đi với 不/没/又/了 thì thường là hỏi nguyên nhân.

Trong bài: Bệnh viện – mô tả triệu chứng

又…又… – vừa… vừa…

又 + tính từ/động từ + 又 + tính từ/động từ

Nêu hai đặc điểm hay tình trạng cùng tồn tại ở một người/vật. Hai vế thường cùng chiều: cùng tốt (又便宜又好吃) hoặc cùng xấu (又贵又难吃). Không cần 很 trước tính từ.

  • 这个菜又酸又辣,真好吃。

    Zhège cài yòu suān yòu là, zhēn hǎochī.

    Món này vừa chua vừa cay, ngon thật.

  • 他做菜又快又好。

    Tā zuò cài yòu kuài yòu hǎo.

    Anh ấy nấu ăn vừa nhanh vừa ngon.

  • 那家饭馆又贵又不好吃。

    Nà jiā fànguǎn yòu guì yòu bù hǎochī.

    Quán ăn kia vừa đắt vừa không ngon.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “vừa… vừa…” có hai cách dịch: hai đặc điểm dùng 又…又 (又酸又辣); hai hành động làm cùng lúc dùng 一边…一边 (一边吃饭一边看电视). Đừng nói 一边酸一边辣 ✗.

Trong bài: Ẩm thực Trung Hoa

除了…以外 – ngoài… ra

除了 A 以外,(chủ ngữ) + 还/也 + … (thêm vào) ; 除了 A 以外,… + 都 + … (loại trừ)

Có hai nghĩa tùy phó từ ở vế sau. Đi với 还/也: ngoài A còn có thêm B (cộng thêm). Đi với 都: trừ A ra thì tất cả đều… (loại A ra). 以外 có thể lược bỏ.

  • 除了北京菜以外,我还喜欢四川菜。

    Chúle Běijīng cài yǐwài, wǒ hái xǐhuan Sìchuān cài.

    Ngoài món Bắc Kinh ra, tôi còn thích món Tứ Xuyên.

  • 除了辣的以外,我什么都吃。

    Chúle là de yǐwài, wǒ shénme dōu chī.

    Trừ đồ cay ra, món gì tôi cũng ăn.

  • 除了我,大家也都想尝尝烤鸭。

    Chúle wǒ, dàjiā yě dōu xiǎng chángchang kǎoyā.

    Ngoài tôi ra, mọi người cũng đều muốn thử vịt quay.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “ngoài… ra” cũng mơ hồ như vậy, nhưng tiếng Trung phân biệt rõ bằng 还/也 (cộng thêm) và 都 (loại trừ). Đọc đề thi, hãy nhìn phó từ ở vế sau để hiểu đúng.

Trong bài: Ẩm thực Trung Hoa

Bổ ngữ xu hướng kép – 拿出来, 放进去

V + 上/下/进/出/回/过/起 + 来/去 ; V + 进/出… + nơi chốn + 来/去

Ghép một động từ hướng (上, 下, 进, 出, 回, 过, 起) với 来/去 để tả hướng chuyển động chi tiết: 拿出来 (lấy ra đây), 放进去 (bỏ vào trong). Nơi chốn đứng giữa 进/出… và 来/去. Tân ngữ chỉ vật có thể đứng sau cả cụm hoặc chen trước 来/去.

  • 他从冰箱里拿出来两瓶啤酒。

    Tā cóng bīngxiāng li ná chūlai liǎng píng píjiǔ.

    Anh ấy lấy từ tủ lạnh ra hai chai bia.

  • 先把豆腐放进锅里去,再放盐。

    Xiān bǎ dòufu fàng jìn guō li qu, zài fàng yán.

    Cho đậu phụ vào nồi trước, rồi mới cho muối.

  • 服务员端上来一盘烤鸭。

    Fúwùyuán duān shànglai yī pán kǎoyā.

    Nhân viên bưng lên một đĩa vịt quay.

So với tiếng Việt

Người Việt hay nói 走进来教室 ✗ theo kiểu “đi vào lớp”. Đúng là 走进教室来 (nơi chốn chen vào giữa). Nghe 来 = hướng về phía người nói, 去 = rời xa người nói.

Trong bài: Ẩm thực Trung Hoa

一…就… – hễ… là…, vừa… là…

Chủ ngữ + 一 + V1,(chủ ngữ) + 就 + V2

Diễn tả hai việc nối tiếp nhau rất nhanh (vừa… là…), hoặc một điều kiện cứ xảy ra là có kết quả (hễ… là…). 一 và 就 đều đứng sau chủ ngữ của vế mình, trước động từ.

  • 我一到酒店就给你打电话。

    Wǒ yī dào jiǔdiàn jiù gěi nǐ dǎ diànhuà.

    Tôi vừa đến khách sạn là gọi cho bạn ngay.

  • 他一坐车就头疼。

    Tā yī zuò chē jiù tóu téng.

    Anh ấy hễ đi xe là đau đầu.

  • 我们一进房间,空调就坏了。

    Wǒmen yī jìn fángjiān, kōngtiáo jiù huài le.

    Chúng tôi vừa vào phòng thì điều hòa hỏng.

So với tiếng Việt

Người Việt hay đặt 一 trước chủ ngữ như “vừa tôi đến”: 一我到酒店 ✗. 一 bám sát động từ: 我一到酒店….

Trong bài: Du lịch – đặt khách sạn

V + 下来 / 下去 – nghĩa mở rộng

V + 下来 (dừng lại, giữ lại, cố định) ; V + 下去 (tiếp tục)

Ngoài nghĩa hướng xuống, 下来 cho biết hành động làm sự vật dừng lại, được ghi giữ lại hoặc ổn định: 停下来, 记下来, 拍下来, 住下来. 下去 cho biết hành động tiếp tục từ bây giờ trở đi: 说下去, 走下去, 住下去. Có tân ngữ thì thường dùng câu 把 (把地址记下来) hoặc đưa tân ngữ lên đầu câu.

  • 车开到桥上,大家都停下来拍照。

    Chē kāidào qiáo shang, dàjiā dōu tíng xiàlai pāizhào.

    Xe chạy đến cầu, mọi người đều dừng lại chụp ảnh.

  • 你把酒店的地址记下来吧。

    Nǐ bǎ jiǔdiàn de dìzhǐ jì xiàlai ba.

    Bạn ghi lại địa chỉ khách sạn đi.

  • 这儿太美了,我真想一直住下去。

    Zhèr tài měi le, wǒ zhēn xiǎng yīzhí zhù xiàqu.

    Ở đây đẹp quá, tôi thật muốn ở mãi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “ghi lại, chụp lại, dừng lại” → tiếng Trung dùng 下来 (记下来, 拍下来, 停下来); đừng dịch “lại” thành 再 hay 回. “Cứ thế tiếp tục” là V + 下去 (说下去), không nói 说继续 ✗.

Trong bài: Du lịch – đặt khách sạn

Đại từ nghi vấn chỉ “bất kỳ” – 哪儿都, 什么都, 谁都

哪儿/什么/谁/怎么 + 都/也 + (不/没) + V

Khi đi với 都/也, đại từ nghi vấn không còn để hỏi mà mang nghĩa “bất cứ… nào cũng”, câu phủ định thành “chẳng… nào cả”. Đây là cách nói rất tự nhiên trong khẩu ngữ.

  • 我太累了,哪儿都不想去。

    Wǒ tài lèi le, nǎr dōu bù xiǎng qù.

    Tôi mệt quá, chẳng muốn đi đâu cả.

  • 这家酒店什么都有。

    Zhè jiā jiǔdiàn shénme dōu yǒu.

    Khách sạn này cái gì cũng có.

  • 前台谁也不知道空调怎么了。

    Qiántái shéi yě bù zhīdào kōngtiáo zěnme le.

    Ở lễ tân chẳng ai biết điều hòa bị làm sao.

So với tiếng Việt

Rất giống tiếng Việt “ai cũng”, “đâu cũng”, “gì cũng”, nhưng thứ tự khác: tiếng Trung đặt đại từ TRƯỚC 都/也 và động từ: 什么都吃 (ăn gì cũng được), không nói 吃什么都 ✗.

Trong bài: Du lịch – đặt khách sạn

一天比一天 – ngày một…, năm sau hơn năm trước

Chủ ngữ + 一 + lượng từ + 比 + 一 + lượng từ + tính từ (+ 了)

Nói sự thay đổi tăng dần theo từng ngày, từng năm, từng lần: 一天比一天热, 一年比一年多, 一次比一次好. Cụm “一 + lượng từ + 比 + 一 + lượng từ” đứng sau chủ ngữ, trước tính từ. Ý gần với 越来越 (đã học ở HSK 2) nhưng nhấn mạnh từng bước thay đổi. Không thêm 很, 更 trước tính từ.

  • 天气一天比一天热了。

    Tiānqì yī tiān bǐ yī tiān rè le.

    Trời mỗi ngày một nóng hơn.

  • 城市里的汽车一年比一年多。

    Chéngshì li de qìchē yī nián bǐ yī nián duō.

    Xe hơi trong thành phố năm sau nhiều hơn năm trước.

  • 这几年的台风一次比一次厉害。

    Zhè jǐ nián de táifēng yī cì bǐ yī cì lìhai.

    Mấy năm nay bão trận sau dữ hơn trận trước.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “ngày một nóng”, “năm sau đông hơn năm trước” → 一天比一天热, 一年比一年多. Đừng nói 一天比一天很热 ✗ hay 天气比一天一天热 ✗; cụm 一天比一天 phải đứng liền trước tính từ.

Trong bài: Môi trường – thời tiết thay đổi

越 A 越 B – càng… càng…

(Chủ ngữ) + 越 + A,(chủ ngữ) + 越 + B

B thay đổi theo A: A càng tăng thì B càng tăng. Hai vế có thể cùng chủ ngữ (雨越下越大) hoặc khác chủ ngữ (车越多,空气越差). 越 luôn đứng sau chủ ngữ, trước động từ/tính từ.

  • 雨越下越大。

    Yǔ yuè xià yuè dà.

    Mưa càng lúc càng to.

  • 汽车越多,空气越不好。

    Qìchē yuè duō, kōngqì yuè bù hǎo.

    Xe hơi càng nhiều, không khí càng kém.

  • 这本书我越看越喜欢。

    Zhè běn shū wǒ yuè kàn yuè xǐhuan.

    Cuốn sách này tôi càng đọc càng thích.

So với tiếng Việt

Người Việt nói “càng nhiều xe” (càng + danh từ) nên dễ viết 越汽车多 ✗. Nhớ: chủ ngữ đứng trước 越: 汽车越多.

Trong bài: Môi trường – thời tiết thay đổi

差不多 và 几乎 – gần như, khoảng

差不多 + số lượng / adj ; A 和 B 差不多 ; 几乎 + 都/没/不…

差不多 nghĩa là “xấp xỉ, gần bằng”: đứng trước số lượng (差不多三十度), làm vị ngữ (A和B差不多 = A với B gần như nhau). 几乎 là phó từ “gần như, hầu như”, thường đi với 都, 没, 不, nhấn mạnh gần đạt đến mức tuyệt đối. 差不多 dùng được ở cuối câu, 几乎 thì không.

  • 今天差不多三十八度。

    Jīntiān chàbuduō sānshíbā dù.

    Hôm nay khoảng 38 độ.

  • 河内和北京的夏天差不多。

    Hénèi hé Běijīng de xiàtiān chàbuduō.

    Mùa hè Hà Nội với Bắc Kinh gần như nhau.

  • 这个月几乎每天都下雨。

    Zhège yuè jīhū měi tiān dōu xià yǔ.

    Tháng này hầu như ngày nào cũng mưa.

So với tiếng Việt

“Gần như giống nhau” nói 差不多 (A和B差不多), không nói A和B几乎 ✗. Khi muốn nói “hầu như không”, dùng 几乎不/几乎没: 他几乎没睡觉.

Trong bài: Môi trường – thời tiết thay đổi

Câu bị động với 叫/让

Đối tượng + 叫/让 + người làm + động từ + thành phần khác

Trong khẩu ngữ, 叫 và 让 có thể thay 被 để tạo câu bị động. Khác 被, sau 叫/让 BẮT BUỘC phải có người thực hiện hành động. Giống câu 被, động từ phải kèm thành phần khác (了, bổ ngữ…).

  • 我的手机叫弟弟摔坏了。

    Wǒ de shǒujī jiào dìdi shuāihuài le.

    Điện thoại của tôi bị em trai làm rơi hỏng rồi.

  • 那张照片让妈妈删了。

    Nà zhāng zhàopiàn ràng māma shān le.

    Tấm ảnh đó bị mẹ xóa mất rồi.

  • 充电器让室友拿走了。

    Chōngdiànqì ràng shìyǒu názǒu le.

    Cái sạc bị bạn cùng phòng lấy đi rồi.

So với tiếng Việt

Có thể nói 手机被摔坏了 nhưng không nói 手机叫摔坏了 ✗ — sau 叫/让 phải có người. Lưu ý 让 còn nghĩa “bảo, để cho” (妈妈让我学习), xem ngữ cảnh: vật chịu tác động đứng đầu câu là câu bị động.

Trong bài: Mạng xã hội – điện thoại

连…也/都… – ngay cả… cũng…

连 + A + 也/都 + (不/没) + V

Nhấn mạnh một trường hợp cực đoan để suy ra mọi trường hợp khác: đến A còn vậy thì những cái khác càng vậy. A có thể là chủ ngữ, tân ngữ hay thậm chí động từ. Thường đi với 也/都, hay dùng trong câu phủ định.

  • 他忙得连吃饭的时间都没有。

    Tā máng de lián chīfàn de shíjiān dōu méiyǒu.

    Anh ấy bận đến nỗi ngay cả thời gian ăn cơm cũng không có.

  • 现在连奶奶都会用手机发视频了。

    Xiànzài lián nǎinai dōu huì yòng shǒujī fā shìpín le.

    Bây giờ ngay cả bà cũng biết dùng điện thoại gửi video.

  • 我玩游戏玩得连饭也忘了吃。

    Wǒ wán yóuxì wán de lián fàn yě wàngle chī.

    Tôi chơi game đến quên cả ăn cơm.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “quên cả ăn cơm”, “đến bà cũng biết”, đặt “cả/đến” linh hoạt. Tiếng Trung phải có 连 + A đứng TRƯỚC động từ: 连饭也忘了吃, không nói 忘了连饭也吃 ✗.

Trong bài: Mạng xã hội – điện thoại

V + 起来 – nghĩa mở rộng

V + 起来 (+ adj/nhận xét) ; V + 起来 (bắt đầu) ; 想起来

Ngoài nghĩa hướng lên (站起来), 起来 còn có ba nghĩa thường gặp: (1) đánh giá khi làm thử: 看起来, 用起来, 听起来 (trông có vẻ, dùng thấy…); (2) bắt đầu và tiếp diễn: 笑起来, 下起雨来; (3) nhớ ra: 想起来. Có tân ngữ thì chen giữa 起 và 来: 下起雨来.

  • 这个软件用起来很方便。

    Zhège ruǎnjiàn yòng qǐlai hěn fāngbiàn.

    Phần mềm này dùng rất tiện.

  • 你看起来很累,昨天晚上又玩手机了吧?

    Nǐ kàn qǐlai hěn lèi, zuótiān wǎnshang yòu wán shǒujī le ba?

    Trông bạn mệt lắm, tối qua lại chơi điện thoại à?

  • 我想起来了,密码是我的生日。

    Wǒ xiǎng qǐlai le, mìmǎ shì wǒ de shēngrì.

    Tôi nhớ ra rồi, mật khẩu là ngày sinh của tôi.

So với tiếng Việt

看起来 ≈ “trông có vẻ”, 听起来 ≈ “nghe có vẻ”. Người Việt hay dịch “trông bạn mệt” thành 你看很累 ✗; phải dùng 你看起来很累.

Trong bài: Mạng xã hội – điện thoại

从来不 / 从来没…过 – xưa nay không, chưa bao giờ

从来 + 不 + V/tính từ (thói quen, tính cách) ; 从来 + 没(有) + V + 过 (chưa từng xảy ra)

从来 nghĩa là “từ trước tới nay”, gần như luôn đi với phủ định. 从来不 nói thói quen, tính cách xưa nay vẫn thế (他从来不说谎). 从来没(有)…过 nói việc chưa từng xảy ra, sau động từ thường có 过. Câu khẳng định ít gặp hơn và phải có 都/就: 他从来都很准时.

  • 他从来不生气,脾气特别好。

    Tā cónglái bù shēngqì, píqi tèbié hǎo.

    Anh ấy xưa nay không bao giờ nổi giận, tính rất hiền.

  • 我们认识十年了,从来没吵过架。

    Wǒmen rènshi shí nián le, cónglái méi chǎoguo jià.

    Chúng tôi quen nhau mười năm, chưa bao giờ cãi nhau.

  • 她从来没对别人说过自己内心的感受。

    Tā cónglái méi duì biérén shuōguo zìjǐ nèixīn de gǎnshòu.

    Cô ấy chưa bao giờ nói với ai cảm xúc trong lòng mình.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dịch “chưa bao giờ” thành 从来不…过 ✗. Nhớ: việc chưa từng xảy ra → 从来没(有) + V + 过; thói quen, tính cách → 从来不 + V. 从来 đứng trước phủ định, không nói 不从来 ✗.

Trong bài: Tình bạn và tình yêu

不是…吗? – câu hỏi tu từ (chẳng phải… sao?)

Chủ ngữ + 不是 + … + 吗?

Câu hỏi tu từ không cần trả lời, dùng để nhấn mạnh điều người nói cho là hiển nhiên, thường kèm ngạc nhiên hay trách nhẹ. Ý nghĩa thật là khẳng định: 你不是说…吗? = rõ ràng bạn đã nói….

  • 你不是说今天有约会吗?怎么还在家?

    Nǐ bù shì shuō jīntiān yǒu yuēhuì ma? Zěnme hái zài jiā?

    Chẳng phải bạn nói hôm nay có hẹn sao? Sao còn ở nhà?

  • 他不是你最好的朋友吗?

    Tā bù shì nǐ zuì hǎo de péngyou ma?

    Chẳng phải anh ấy là bạn thân nhất của cậu sao?

  • 我们不是说好了不吵架吗?

    Wǒmen bù shì shuōhǎole bù chǎojià ma?

    Chẳng phải mình đã hứa không cãi nhau sao?

So với tiếng Việt

Giống hệt “chẳng phải… sao?” trong tiếng Việt. Khi nghe trong đề thi, hiểu theo nghĩa khẳng định: 他不是去北京了吗? = người nói tin rằng anh ấy đã đi Bắc Kinh.

Trong bài: Tình bạn và tình yêu

Tính từ + 极了 / 得很 / 死了 – mức độ cao

Tính từ/động từ tâm lý + 极了 / 得很 / 死了

Đặt sau tính từ để nói mức độ rất cao. 极了 (cực kỳ) dùng được cả văn viết và nói. 得很 nhẹ hơn, khẩu ngữ. 死了 (… chết đi được) rất khẩu ngữ, thường cho cảm giác khó chịu (累死了, 饿死了) hoặc vui quá mức (高兴死了). Không thêm 很 trước tính từ.

  • 收到你的礼物,我高兴极了。

    Shōudào nǐ de lǐwù, wǒ gāoxìng jí le.

    Nhận được quà của bạn, mình vui cực kỳ.

  • 他这个人幽默得很。

    Tā zhège rén yōumò de hěn.

    Người này hài hước lắm.

  • 等了你一个小时,我饿死了!

    Děngle nǐ yī ge xiǎoshí, wǒ è sǐ le!

    Đợi cậu một tiếng, mình đói chết đi được!

So với tiếng Việt

Không nói 很好极了 ✗ (thừa 很). 死了 không mang nghĩa “chết” thật, giống tiếng Việt “mệt chết đi được”, nhưng đừng dùng với người lớn tuổi hay trong văn viết trang trọng.

Trong bài: Tình bạn và tình yêu

关于 – về (chủ đề)

关于 + chủ đề + 的 + danh từ ; 关于 + chủ đề,…

关于 giới thiệu chủ đề, phạm vi nội dung, giống “về”, “liên quan đến”. Thường dùng làm định ngữ (关于春节的书) hoặc đứng đầu câu (关于这个问题,…). Khi làm trạng ngữ, 关于 đứng TRƯỚC chủ ngữ, không đứng sau.

  • 我看了一本关于中国节日的书。

    Wǒ kànle yī běn guānyú Zhōngguó jiérì de shū.

    Tôi đã đọc một cuốn sách về các lễ hội Trung Quốc.

  • 关于中秋节,有很多美丽的故事。

    Guānyú Zhōngqiūjié, yǒu hěn duō měilì de gùshi.

    Về Tết Trung thu, có nhiều câu chuyện đẹp.

  • 关于过年的习俗,你可以问问我奶奶。

    Guānyú guònián de xísú, nǐ kěyǐ wènwen wǒ nǎinai.

    Về phong tục ăn Tết, bạn có thể hỏi bà mình.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng 对 để nói “về”: 对春节的书 ✗. Chỉ nội dung, chủ đề thì dùng 关于: 关于春节的书. Còn 对 dùng cho đối tượng của thái độ: 他对我很好.

Trong bài: Lễ hội truyền thống

Động từ ly hợp – 见面, 帮忙, 结婚, 过年

V + (了/过/bổ ngữ/số lượng) + O ; gặp ai: 跟 + người + 见面

Một số động từ hai âm tiết thực chất là “động từ + tân ngữ” (见面 = gặp + mặt, 帮忙 = giúp + việc, 结婚, 睡觉, 洗澡, 过年). Chúng không mang thêm tân ngữ phía sau; muốn có 了, 过, số lần, thời lượng thì chen vào giữa. Đối tượng phải đưa ra trước bằng 跟/和/给.

  • 我跟他见过一次面。

    Wǒ gēn tā jiànguo yī cì miàn.

    Tôi đã gặp anh ấy một lần.

  • 过年的时候,你能帮我一个忙吗?

    Guònián de shíhou, nǐ néng bāng wǒ yī ge máng ma?

    Dịp Tết, bạn giúp mình một việc được không?

  • 他太累了,洗了个澡就睡觉了。

    Tā tài lèi le, xǐle ge zǎo jiù shuìjiào le.

    Anh ấy mệt quá, tắm một cái rồi đi ngủ luôn.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “gặp anh ấy”, “giúp tôi”, “cưới cô ấy” nên người Việt hay viết 见面他 ✗, 帮忙我 ✗, 结婚她 ✗. Đúng là 跟他见面, 帮我的忙 / 帮我一个忙, 跟她结婚.

Trong bài: Lễ hội truyền thống

每…都… – mỗi… đều…

每 + (số) + lượng từ + danh từ + 都 + V

每 (mỗi) đi với 都 ở phía sau để nói “không trừ cái nào”. Sau 每 cần lượng từ (每个人, 每天, 每年 — 天, 年 tự làm lượng từ). 都 đặt sau chủ ngữ, trước động từ, gần như bắt buộc.

  • 每年春节,我们都回老家。

    Měi nián Chūnjié, wǒmen dōu huí lǎojiā.

    Tết năm nào chúng tôi cũng về quê.

  • 每个孩子都收到了红包。

    Měi ge háizi dōu shōudàole hóngbāo.

    Đứa trẻ nào cũng nhận được lì xì.

  • 每个地方的习俗都有自己的特色。

    Měi ge dìfang de xísú dōu yǒu zìjǐ de tèsè.

    Phong tục mỗi nơi đều có nét riêng.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “mỗi người một bao lì xì” không cần “đều”, nhưng tiếng Trung câu có 每 thường phải có 都. Đừng quên lượng từ: 每人 được dùng, nhưng 每书 ✗ → 每本书.

Trong bài: Lễ hội truyền thống

为了 – để, vì (mục đích)

为了 + mục đích,(chủ ngữ) + hành động ; Chủ ngữ + V… + 是为了 + mục đích

为了 nêu mục đích của hành động, thường đứng đầu câu (trước chủ ngữ). Muốn nhấn mạnh mục đích ở cuối câu thì dùng 是为了: 我学汉语是为了去中国留学. Phân biệt với 因为: 因为 nêu nguyên nhân (việc đã có), 为了 nêu mục đích (việc muốn đạt).

  • 为了申请奖学金,他每天学习到很晚。

    Wèile shēnqǐng jiǎngxuéjīn, tā měi tiān xuéxí dào hěn wǎn.

    Để xin học bổng, ngày nào anh ấy cũng học đến khuya.

  • 我学汉语是为了以后当翻译。

    Wǒ xué Hànyǔ shì wèile yǐhòu dāng fānyì.

    Tôi học tiếng Trung là để sau này làm phiên dịch.

  • 为了不让父母担心,我每个星期给他们打电话。

    Wèile bù ràng fùmǔ dānxīn, wǒ měi ge xīngqī gěi tāmen dǎ diànhuà.

    Để bố mẹ không lo, tuần nào tôi cũng gọi điện cho họ.

So với tiếng Việt

Chữ “vì” trong tiếng Việt vừa chỉ nguyên nhân vừa chỉ mục đích (“vì con, mẹ làm tất cả”). Hỏi lại: đó là lý do đã có (因为) hay điều muốn đạt tới (为了)? “Vì tương lai” = 为了未来.

Trong bài: Kế hoạch tương lai – du học

只有…才… – chỉ có… mới…

只有 + điều kiện duy nhất,(chủ ngữ) + 才 + kết quả

Nêu điều kiện duy nhất, bắt buộc: thiếu nó thì không có kết quả. Khác 只要…就 (chỉ cần… là, điều kiện đủ, dễ dãi), 只有…才 mang ý chặt chẽ, khó hơn. 才 đứng sau chủ ngữ vế sau.

  • 只有通过HSK四级,才能申请这个专业。

    Zhǐyǒu tōngguò HSK sì jí, cái néng shēnqǐng zhège zhuānyè.

    Chỉ có đỗ HSK 4 mới được nộp đơn vào ngành này.

  • 只有多说多练,你的口语才会提高。

    Zhǐyǒu duō shuō duō liàn, nǐ de kǒuyǔ cái huì tígāo.

    Chỉ có nói nhiều luyện nhiều, khẩu ngữ của bạn mới tiến bộ.

  • 只有成绩好的学生才有机会拿奖学金。

    Zhǐyǒu chéngjì hǎo de xuésheng cái yǒu jīhuì ná jiǎngxuéjīn.

    Chỉ học sinh có thành tích tốt mới có cơ hội nhận học bổng.

So với tiếng Việt

Không ghép chéo: 只有…就 ✗, 只要…才 ✗. Mẹo nhớ: “chỉ cần… là” = 只要…就; “chỉ có… mới” = 只有…才 (才 = mới).

Trong bài: Kế hoạch tương lai – du học

等…(以后/了),再… – đợi… rồi hãy…

等 + sự việc A (+ 以后 / 了),(chủ ngữ) + 再 + việc B

Nói việc B chỉ làm sau khi việc A đã xong, rất hay dùng khi bàn kế hoạch: 等我毕业以后,再去留学. Sau 等 là cả một sự việc (có thể có chủ ngữ riêng), cuối vế thường có 以后 hoặc 了. Vế sau dùng 再 vì việc chưa xảy ra; nếu kể việc đã xảy ra thì dùng 才 (等他到了,我们才出发).

  • 等我拿到HSK四级证书,再申请奖学金。

    Děng wǒ nádào HSK sì jí zhèngshū, zài shēnqǐng jiǎngxuéjīn.

    Đợi tôi lấy được chứng chỉ HSK 4 rồi hãy xin học bổng.

  • 等毕业以后,我再决定读硕士还是工作。

    Děng bìyè yǐhòu, wǒ zài juédìng dú shuòshì háishi gōngzuò.

    Tốt nghiệp xong tôi mới quyết định học thạc sĩ hay đi làm.

  • 这件事等你考虑好了再告诉我。

    Zhè jiàn shì děng nǐ kǎolǜ hǎo le zài gàosu wǒ.

    Việc này đợi bạn cân nhắc kỹ rồi hãy nói với tôi.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “đợi tốt nghiệp rồi tính”, “để… xong rồi hãy…” → 等…以后/了,再…. Đừng bỏ 再 (等我毕业,去中国 nghe cụt) và đừng thay 再 bằng 然后. 再 đứng sau chủ ngữ của vế sau: 我再决定, không nói 再我决定 ✗.

Trong bài: Kế hoạch tương lai – du học

HSK 4Trung cấp 1

既…又/也… – vừa… vừa…

Chủ ngữ + 既 + A + 又/也 + B

Diễn tả hai đặc điểm hoặc hai hành động cùng tồn tại: “vừa… vừa…”, “đã… lại…”. A và B thường cùng loại (cùng là tính từ hoặc cùng là cụm động từ) và cùng chiều nghĩa (cùng tốt hoặc cùng xấu). 既…又 nhấn hai mặt ngang nhau; 既…也 hơi nhấn vào vế sau. Chủ ngữ đứng trước 既.

  • 这份工作既有意思又有挑战。

    Zhè fèn gōngzuò jì yǒu yìsi yòu yǒu tiǎozhàn.

    Công việc này vừa thú vị vừa có thử thách.

  • 新经理既年轻又有经验。

    Xīn jīnglǐ jì niánqīng yòu yǒu jīngyàn.

    Giám đốc mới vừa trẻ vừa có kinh nghiệm.

  • 他既会说中文,也会说英文。

    Tā jì huì shuō Zhōngwén, yě huì shuō Yīngwén.

    Anh ấy biết nói tiếng Trung, cũng biết nói tiếng Anh.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “vừa… vừa…” nên người Việt hay dùng 又…又 — cũng đúng, nhưng 既…又 trang trọng hơn, hợp email và báo cáo. Lỗi hay gặp: đặt chủ ngữ sau 既 (既他…又…) — sai, phải là 他既…又…. Đừng nhầm 既 (jì, thanh 4) với 即 (jí, thanh 2) trong 即使.

Trong bài: Làm việc ở công ty Trung Quốc

对于… / 至于… – đối với… / còn về…

对于 + đối tượng, + nhận xét; … , 至于 + chủ đề mới, + …

对于 dẫn ra đối tượng được bàn tới, nghĩa “đối với, về”; hay đi cùng 来说 để nêu góc nhìn: 对于我来说. 至于 dùng để chuyển sang một chủ đề có liên quan, nghĩa “còn về…”, thường đứng đầu vế sau. 对于 gần nghĩa 对, nhưng 对 còn chỉ thái độ hướng vào người (对他很好) mà 对于 thì không.

  • 对于新职员来说,最重要的是学习。

    Duìyú xīn zhíyuán lái shuō, zuì zhòngyào de shì xuéxí.

    Đối với nhân viên mới, điều quan trọng nhất là học hỏi.

  • 对于这个计划,大家有什么意见?

    Duìyú zhège jìhuà, dàjiā yǒu shénme yìjiàn?

    Về kế hoạch này, mọi người có ý kiến gì không?

  • 我们先把工作做完,至于奖金,以后再谈。

    Wǒmen xiān bǎ gōngzuò zuòwán, zhìyú jiǎngjīn, yǐhòu zài tán.

    Chúng ta làm xong việc trước, còn chuyện tiền thưởng thì để sau hãy bàn.

So với tiếng Việt

“Đối với tôi (theo tôi)” nói 对我来说 hoặc 对于我来说, không nói trống 对于我. Chỉ thái độ với người thì dùng 对: 他对我很好 (không nói 他对于我很好). 至于 chỉ dùng khi chuyển ý, không mở đầu cả đoạn văn.

Trong bài: Làm việc ở công ty Trung Quốc

以…为… – lấy… làm…

以 + A + 为 + B

Cấu trúc văn viết, nghĩa “lấy A làm B”, “coi A là B”. Hay gặp: 以…为主 (lấy… làm chính), 以…为中心 (lấy… làm trung tâm), 以…为目标, 以…为荣 (lấy… làm vinh dự). Dùng nhiều trong khẩu hiệu công ty, văn bản, báo cáo.

  • 我们公司以客户为中心。

    Wǒmen gōngsī yǐ kèhù wéi zhōngxīn.

    Công ty chúng tôi lấy khách hàng làm trung tâm.

  • 这次培训以实际练习为主。

    Zhè cì péixùn yǐ shíjì liànxí wéi zhǔ.

    Đợt tập huấn này lấy thực hành làm chính.

  • 父母一直以你为荣。

    Fùmǔ yīzhí yǐ nǐ wéi róng.

    Bố mẹ luôn tự hào về con.

So với tiếng Việt

为 ở đây đọc wéi (thanh 2), không đọc wèi như trong 为什么, 因为. Câu Việt “lấy khách hàng làm trung tâm” dịch sát chữ là ra 以客户为中心 — đúng là lợi thế của người Việt. Lỗi hay gặp: 把客户为中心 (sai, phải dùng 以).

Trong bài: Làm việc ở công ty Trung Quốc

无论…都/也… – dù… thế nào cũng…

无论 + (từ để hỏi / A还是B / 多么 + tính từ), + 都/也 + kết quả

“Dù… thế nào thì… vẫn…”: trong mọi điều kiện, kết quả không thay đổi. Sau 无论 phải là một yếu tố “mở”: đại từ nghi vấn (谁, 什么, 怎么, 多少), lựa chọn (A还是B, 高不高) hoặc 多么 + tính từ. Vế sau bắt buộc có 都 hoặc 也. 无论 trang trọng hơn 不管 (bài 9); 无论如何 = dù thế nào đi nữa.

  • 无论价格多少,质量都要保证。

    Wúlùn jiàgé duōshao, zhìliàng dōu yào bǎozhèng.

    Dù giá bao nhiêu thì chất lượng cũng phải bảo đảm.

  • 无论谈判多么困难,我们也不会放弃。

    Wúlùn tánpàn duōme kùnnan, wǒmen yě bù huì fàngqì.

    Dù đàm phán khó khăn đến đâu, chúng tôi cũng không bỏ cuộc.

  • 无论你们订多少,我们都按时交货。

    Wúlùn nǐmen dìng duōshao, wǒmen dōu ànshí jiāohuò.

    Dù các anh chị đặt bao nhiêu, chúng tôi đều giao đúng hạn.

So với tiếng Việt

Lỗi số 1 của người Việt: dịch “dù giá cao” thành 无论价格很高 — sai, vì sau 无论 không được là câu khẳng định đơn thuần. Phải nói 无论价格高不高 / 无论价格多高. Nếu chỉ có một giả định cụ thể thì dùng 即使…也 (bài 4). Đừng quên 都/也 ở vế sau.

Trong bài: Đàm phán thương mại

否则 – nếu không thì…

Yêu cầu / điều kiện, + 否则 + hậu quả

Vế trước nêu việc cần làm, vế sau mở đầu bằng 否则 nói hậu quả nếu không làm. Vế trước thường có 必须, 一定要, 最好, 得. Văn nói có thể thay bằng 不然 / 要不然.

  • 我们必须今天签合同,否则价格会变。

    Wǒmen bìxū jīntiān qiān hétong, fǒuzé jiàgé huì biàn.

    Chúng ta phải ký hợp đồng hôm nay, nếu không giá sẽ thay đổi.

  • 请按时付款,否则我们不能发货。

    Qǐng ànshí fùkuǎn, fǒuzé wǒmen bù néng fāhuò.

    Vui lòng thanh toán đúng hạn, nếu không chúng tôi không thể gửi hàng.

  • 你最好先看看样品,否则很难判断质量。

    Nǐ zuìhǎo xiān kànkan yàngpǐn, fǒuzé hěn nán pànduàn zhìliàng.

    Tốt nhất bạn nên xem hàng mẫu trước, nếu không rất khó đánh giá chất lượng.

So với tiếng Việt

否则 đã mang nghĩa “nếu không thì”, nên không thêm 如果不 phía trước. 否 đọc fǒu (thanh 3), Hán Việt là “phủ” như trong “phủ định” (否定); 则 là “tắc”. Văn nói thân mật dùng 不然 / 要不然 nghe tự nhiên hơn.

Trong bài: Đàm phán thương mại

是否 – có… hay không

Chủ ngữ + 是否 + động từ / tính từ …

是否 là dạng văn viết của 是不是 / …不…, nghĩa “có… hay không”. Dùng nhiều trong email, hợp đồng, thông báo và câu hỏi gián tiếp (不知道…是否…). Câu có 是否 không thêm 吗 ở cuối.

  • 请问贵公司是否可以提前交货?

    Qǐngwèn guì gōngsī shìfǒu kěyǐ tíqián jiāohuò?

    Xin hỏi quý công ty có thể giao hàng sớm hơn không?

  • 我不知道对方是否赞成这个方案。

    Wǒ bù zhīdào duìfāng shìfǒu zànchéng zhège fāng'àn.

    Tôi không biết phía đối tác có tán thành phương án này không.

  • 双方是否能签合同,要看明天的谈判。

    Shuāngfāng shìfǒu néng qiān hétong, yào kàn míngtiān de tánpàn.

    Hai bên có ký được hợp đồng hay không còn tùy cuộc đàm phán ngày mai.

So với tiếng Việt

Không nói 是否…吗 (hỏi hai lần). Trong email gửi đối tác Trung Quốc, 贵公司是否… nghe chuyên nghiệp hơn hẳn 你们…吗. 是否 đứng sau chủ ngữ, trước động từ: 他是否同意, không nói 是否他同意.

Trong bài: Đàm phán thương mại

与其…不如… – thay vì… chi bằng…

与其 + A, (还)不如 + B

So sánh hai lựa chọn và người nói chọn B: “thay vì A, chi bằng B”. A là phương án bị gạt bỏ, B là phương án được khuyên. Có thể thêm 还 trước 不如 để nhấn mạnh.

  • 与其买很多便宜的衣服,不如买一件质量好的。

    Yǔqí mǎi hěn duō piányi de yīfu, bùrú mǎi yī jiàn zhìliàng hǎo de.

    Thay vì mua nhiều quần áo rẻ, chi bằng mua một cái chất lượng tốt.

  • 与其在商场排队,还不如在网上买。

    Yǔqí zài shāngchǎng páiduì, hái bùrú zài wǎngshang mǎi.

    Thay vì xếp hàng ở trung tâm thương mại, chi bằng mua trên mạng.

  • 与其等着抽奖,不如直接买特价商品。

    Yǔqí děngzhe chōujiǎng, bùrú zhíjiē mǎi tèjià shāngpǐn.

    Thay vì chờ bốc thăm trúng thưởng, chi bằng mua luôn hàng giá đặc biệt.

So với tiếng Việt

Người Việt hay đặt nhầm vị trí: phương án được chọn phải đứng sau 不如, không phải sau 与其. Mẹo nhớ: 与其 = “thay vì” (bỏ), 不如 = “chi bằng” (chọn). Không ghép 与其 với 但是 hay 还是.

Trong bài: Thói quen tiêu dùng

A 不如 B – A không bằng B

A + 不如 + B (+ tính từ / động từ)

“A không bằng B”: B hơn A về mặt nào đó. Phần sau 不如 thường mang nghĩa tích cực (好, 便宜, 方便, 实用, 会…). Có thể đứng một mình: 我不如他 (tôi không bằng anh ấy).

  • 这家店的东西不如那家便宜。

    Zhè jiā diàn de dōngxi bùrú nà jiā piányi.

    Đồ ở cửa hàng này không rẻ bằng cửa hàng kia.

  • 二手电脑的质量不如新的好。

    Èrshǒu diànnǎo de zhìliàng bùrú xīn de hǎo.

    Máy tính cũ chất lượng không bằng máy mới.

  • 说到挑选衣服,我不如我妹妹。

    Shuōdào tiāoxuǎn yīfu, wǒ bùrú wǒ mèimei.

    Nói đến chọn quần áo thì tôi không bằng em gái tôi.

So với tiếng Việt

Đừng đặt tính từ tiêu cực sau 不如: muốn nói “cửa hàng này rẻ hơn” thì nói 这家比那家便宜 hoặc 那家不如这家便宜, không nói 这家不如那家贵. Phủ định của câu 比 thường là 没有 hoặc 不如; còn 不比 có nghĩa khác (“không hơn”).

Trong bài: Thói quen tiêu dùng

跟/和…一样 – giống… / bằng…

A + 跟/和 + B + (不)一样 (+ tính từ / động từ)

So sánh ngang bằng: A giống B, hoặc A bằng B về một mặt nào đó. Phủ định đặt 不 trước 一样: 跟…不一样. Muốn nói “giống nhau về mặt gì” thì đặt tính từ sau 一样: 跟他一样高.

  • 越南年轻人跟中国年轻人一样,喜欢在网上购物。

    Yuènán niánqīngrén gēn Zhōngguó niánqīngrén yīyàng, xǐhuan zài wǎngshang gòuwù.

    Người trẻ Việt Nam cũng giống người trẻ Trung Quốc, thích mua sắm trên mạng.

  • 这件衣服跟那件一样贵。

    Zhè jiàn yīfu gēn nà jiàn yīyàng guì.

    Cái áo này đắt bằng cái kia.

  • 我的消费习惯跟父母很不一样。

    Wǒ de xiāofèi xíguàn gēn fùmǔ hěn bù yīyàng.

    Thói quen chi tiêu của tôi rất khác bố mẹ.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “đắt như nhau / đắt bằng”, còn tiếng Trung đặt 一样 TRƯỚC tính từ: 一样贵, không nói 贵一样. Phủ định là 跟…不一样, không nói 不跟…一样. Khi nói, 一样 đọc biến điệu thành yíyàng.

Trong bài: Thói quen tiêu dùng

不是…而是… – không phải… mà là…

(Chủ ngữ) + 不是 + A, 而是 + B

Phủ định A và khẳng định B để đính chính hoặc chỉ ra điều thật sự đúng: “không phải A mà là B”. A và B phải cùng loại (cùng danh từ, cùng cụm động từ, hoặc cùng là “因为… / 为了…”). Rất hay dùng khi nêu quan điểm, phản bác một cách nghĩ phổ biến. 而是 là một khối cố định, đứng đầu vế sau.

  • 我选这个专业,不是因为父母,而是因为我自己喜欢。

    Wǒ xuǎn zhège zhuānyè, bù shì yīnwèi fùmǔ, ér shì yīnwèi wǒ zìjǐ xǐhuan.

    Tôi chọn ngành này không phải vì bố mẹ, mà vì chính tôi thích.

  • 他没考好不是因为不努力,而是因为太紧张了。

    Tā méi kǎohǎo bù shì yīnwèi bù nǔlì, ér shì yīnwèi tài jǐnzhāng le.

    Cậu ấy thi không tốt không phải vì không cố gắng, mà vì quá căng thẳng.

  • 她每天学到很晚,不是因为老师要求,而是因为她想拿奖学金。

    Tā měi tiān xué dào hěn wǎn, bù shì yīnwèi lǎoshī yāoqiú, ér shì yīnwèi tā xiǎng ná jiǎngxuéjīn.

    Ngày nào cô ấy cũng học đến khuya, không phải vì thầy cô yêu cầu, mà vì cô ấy muốn giành học bổng.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dịch “mà là” thành 但是: 不是A,但是B — sai, phải là 不是…而是…. Đừng nhầm với 不但…而且 (không những… mà còn): 不是…而是 gạt bỏ A, còn 不但…而且 giữ cả A lẫn B. 而 đọc ér (thanh 2).

Trong bài: Giáo dục và áp lực thi cử

即使…也… – cho dù… cũng…

即使 + giả định, + (chủ ngữ) + 也 + kết quả không đổi

“Cho dù / ngay cả khi… thì cũng…”: nêu một giả định (thường chưa xảy ra hoặc là trường hợp cực đoan) và khẳng định kết quả vẫn vậy. Khác 虽然, vốn nói về sự thật đã có. Văn nói hay dùng 就算…也 hoặc 哪怕…也.

  • 即使这次考试失败了,你也不要放弃。

    Jíshǐ zhè cì kǎoshì shībài le, nǐ yě bùyào fàngqì.

    Cho dù kỳ thi lần này thất bại, em cũng đừng bỏ cuộc.

  • 即使不睡觉,他也觉得复习时间不够。

    Jíshǐ bù shuìjiào, tā yě juéde fùxí shíjiān bù gòu.

    Cho dù không ngủ, cậu ấy vẫn thấy không đủ thời gian ôn.

  • 即使分数很高,也不一定能进你喜欢的专业。

    Jíshǐ fēnshù hěn gāo, yě bù yīdìng néng jìn nǐ xǐhuan de zhuānyè.

    Ngay cả khi điểm rất cao, cũng chưa chắc vào được ngành bạn thích.

So với tiếng Việt

即使 là giả định, 虽然 là sự thật. “Tuy hôm nay mưa nhưng tôi vẫn đi” → 虽然…但是; “Cho dù mai mưa tôi cũng đi” → 即使…也. Vế sau dùng 也, không dùng 但是. 即 đọc jí (thanh 2), khác 既 jì (thanh 4) trong 既…又.

Trong bài: Giáo dục và áp lực thi cử

使 / 令 – khiến cho (câu kiêm ngữ)

A + 使/令 + B + động từ / tính từ

Câu kiêm ngữ: B vừa là tân ngữ của 使/令, vừa là chủ ngữ của phần sau. 使 và 令 nghĩa “khiến cho, làm cho”, trang trọng hơn 让; phần sau thường là trạng thái, cảm xúc (紧张, 失望, 感动, 难忘). 令 rất hay đi với 人: 令人失望, 令人难忘.

  • 激烈的竞争使很多学生压力很大。

    Jīliè de jìngzhēng shǐ hěn duō xuésheng yālì hěn dà.

    Sự cạnh tranh gay gắt khiến nhiều học sinh rất áp lực.

  • 他的成绩令父母非常骄傲。

    Tā de chéngjì lìng fùmǔ fēicháng jiāo'ào.

    Thành tích của cậu ấy khiến bố mẹ vô cùng tự hào.

  • 老师的鼓励使我变得更自信了。

    Lǎoshī de gǔlì shǐ wǒ biàn de gèng zìxìn le.

    Lời động viên của thầy giúp tôi trở nên tự tin hơn.

  • 这次考试的结果真令人失望。

    Zhè cì kǎoshì de jiéguǒ zhēn lìng rén shīwàng.

    Kết quả kỳ thi lần này thật khiến người ta thất vọng.

So với tiếng Việt

Lỗi hay gặp: bỏ mất tân ngữ B — 这个结果使很失望 (sai) → 这个结果使人很失望. 使/令 hầu như không dùng để sai bảo; bảo ai làm gì thì dùng 让 hoặc 叫 (妈妈让我去买菜).

Trong bài: Giáo dục và áp lực thi cử

尽管…还是/但是… – mặc dù… vẫn…

尽管 + sự thật, + (但是/可是) + chủ ngữ + 还是/仍然 + …

尽管 nghĩa “mặc dù, dù cho”, nêu một sự thật đã có, vế sau nói kết quả trái với mong đợi. Giống 虽然 nhưng giọng nhấn mạnh hơn, hay gặp trong văn viết. Vế sau thường có 但是/可是 và/hoặc 还是/仍然/也.

  • 尽管医生让他别抽烟,他还是每天抽一包。

    Jǐnguǎn yīshēng ràng tā bié chōuyān, tā háishi měi tiān chōu yī bāo.

    Mặc dù bác sĩ bảo đừng hút thuốc, anh ấy vẫn hút mỗi ngày một bao.

  • 尽管工作很忙,她也坚持每天锻炼。

    Jǐnguǎn gōngzuò hěn máng, tā yě jiānchí měi tiān duànliàn.

    Dù công việc rất bận, cô ấy vẫn kiên trì tập thể dục hằng ngày.

  • 尽管吃了药,但是我的烧还没退。

    Jǐnguǎn chīle yào, dànshì wǒ de shāo hái méi tuì.

    Mặc dù đã uống thuốc nhưng tôi vẫn chưa hạ sốt.

So với tiếng Việt

尽管 nói về sự thật, giống 虽然; còn giả định thì dùng 即使 (bài 4). 尽 ở đây đọc jǐn (thanh 3), không đọc jìn như trong 尽力. Người Việt hay bỏ 还是 ở vế sau khiến câu thiếu ý “vẫn”.

Trong bài: Sức khỏe và lối sống

千万 – nhất định, tuyệt đối (lời dặn)

千万 + 要 / 别 / 不要 + động từ

千万 là phó từ dùng trong lời dặn dò, khuyên nhủ, nghĩa “nhất định phải” hoặc “tuyệt đối đừng”. Thường gặp nhất ở dạng phủ định: 千万别…, 千万不要…. Chỉ dùng với người nghe hoặc trong lời khuyên, không dùng để kể chuyện đã xảy ra.

  • 你发烧了,千万别去上班。

    Nǐ fāshāo le, qiānwàn bié qù shàngbān.

    Bạn sốt rồi, tuyệt đối đừng đi làm.

  • 这种药千万不要空腹吃。

    Zhè zhǒng yào qiānwàn bùyào kōngfù chī.

    Thuốc này tuyệt đối không được uống lúc đói.

  • 出国以前,千万要记得带护照。

    Chūguó yǐqián, qiānwàn yào jìde dài hùzhào.

    Trước khi ra nước ngoài, nhất định phải nhớ mang hộ chiếu.

So với tiếng Việt

千万 còn là số “mười triệu”, nhưng ở đây là phó từ, giống “nhớ đấy, đừng có…” trong tiếng Việt. Không nói 我昨天千万没去 (kể việc đã qua) — sai. Muốn nói “nhất định” khi hứa thì dùng 一定: 我一定去.

Trong bài: Sức khỏe và lối sống

差点儿 / 差点儿没 – suýt nữa (mở rộng từ 几乎 ở HSK 3)

Chủ ngữ + 差点儿 (+ 没) + động từ

Ở HSK 3 bạn đã học 几乎 (gần như, hầu như – nói về mức độ). 差点儿 thì khác: một việc rất gần xảy ra nhưng cuối cùng KHÔNG xảy ra, nghĩa “suýt nữa”. Với việc KHÔNG mong muốn (摔倒, 迟到, 住院), 差点儿 + V và 差点儿没 + V đều nghĩa là “suýt nữa… (may mà không)”. Với việc MONG MUỐN, 差点儿考上 = suýt đỗ (tiếc là trượt; hay nói 差点儿就考上了), còn 差点儿没考上 = suýt trượt (may mà đỗ).

  • 上个月他发高烧,差点儿住院。

    Shàng ge yuè tā fā gāoshāo, chàdiǎnr zhùyuàn.

    Tháng trước anh ấy sốt cao, suýt nữa phải nhập viện.

  • 路太滑了,我差点儿摔倒。

    Lù tài huá le, wǒ chàdiǎnr shuāidǎo.

    Đường trơn quá, tôi suýt ngã.

  • 我差点儿没赶上飞机。

    Wǒ chàdiǎnr méi gǎnshàng fēijī.

    Tôi suýt nữa thì lỡ máy bay (nhưng đã kịp).

  • 只差两分,他差点儿就考上了。

    Zhǐ chà liǎng fēn, tā chàdiǎnr jiù kǎoshàng le.

    Chỉ thiếu hai điểm, cậu ấy suýt nữa thì đỗ (tiếc là trượt).

So với tiếng Việt

Đừng dùng 几乎 thay 差点儿 khi kể chuyện “suýt”: 我几乎每天加班 (gần như ngày nào cũng tăng ca) nói về mức độ, còn 我差点儿迟到 (suýt muộn) nói về việc suýt xảy ra. Với việc mong muốn rất dễ nhầm: “suýt đỗ” là 差点儿(就)考上了, “suýt trượt” là 差点儿没考上. Mẹo: việc xấu thì có 没 hay không đều là “may mà không xảy ra”.

Trong bài: Sức khỏe và lối sống

随着… – cùng với…, theo đà…

随着 + danh từ / cụm chỉ sự thay đổi, + kết quả thay đổi theo

随着 nghĩa “cùng với, theo đà”, nêu một sự thay đổi kéo theo sự thay đổi khác. Thường đứng đầu câu; sau 随着 hay là cụm có 的 + 发展/提高/增加/变化. Vế sau thường có 越来越, 也, 变得….

  • 随着网络的发展,网购越来越方便了。

    Suízhe wǎngluò de fāzhǎn, wǎnggòu yuè lái yuè fāngbiàn le.

    Cùng với sự phát triển của Internet, mua hàng online ngày càng tiện lợi.

  • 随着年龄的增加,他的身体不如以前了。

    Suízhe niánlíng de zēngjiā, tā de shēntǐ bùrú yǐqián le.

    Tuổi càng cao, sức khỏe của ông ấy không bằng trước.

  • 随着智能手机的普及,老人也开始用微信了。

    Suízhe zhìnéng shǒujī de pǔjí, lǎorén yě kāishǐ yòng Wēixìn le.

    Cùng với sự phổ biến của điện thoại thông minh, người già cũng bắt đầu dùng WeChat.

So với tiếng Việt

Người Việt hay viết 随着网络发展很快,… — câu bị “gãy”. Sau 随着 nên là một cụm danh từ: 随着网络的发展. Đừng nhầm với 跟着 (đi theo ai): 跟着导游走.

Trong bài: Công nghệ và thương mại điện tử

通过… – thông qua…, bằng cách…

通过 + phương tiện / cách thức, + chủ ngữ + động từ

Khi là giới từ, 通过 nghĩa “thông qua, bằng (cách)”, nêu phương tiện hoặc con đường để đạt mục đích. Có thể đứng đầu câu hoặc sau chủ ngữ. 通过 còn là động từ nghĩa “đi qua; thông qua, đỗ (kỳ thi)”: 通过考试.

  • 通过微信,我们可以随时联系。

    Tōngguò Wēixìn, wǒmen kěyǐ suíshí liánxì.

    Thông qua WeChat, chúng ta có thể liên lạc bất cứ lúc nào.

  • 她通过网络找到了现在的工作。

    Tā tōngguò wǎngluò zhǎodàole xiànzài de gōngzuò.

    Cô ấy tìm được công việc hiện tại qua mạng.

  • 通过这些数据,我们可以了解顾客的习惯。

    Tōngguò zhèxiē shùjù, wǒmen kěyǐ liǎojiě gùkè de xíguàn.

    Thông qua những số liệu này, chúng ta có thể hiểu thói quen của khách hàng.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt nói “qua mạng”, người Việt hay dịch thành 过网络 — thiếu chữ 通. “Bằng điện thoại” có thể dùng 用手机 (công cụ) hoặc 通过手机 (kênh, con đường). Không dùng 通过 cho phương tiện giao thông: đi bằng xe buýt là 坐公交车.

Trong bài: Công nghệ và thương mại điện tử

甚至 – thậm chí

…, 甚至 + (thành phần mức độ cao hơn)

甚至 nghĩa “thậm chí, ngay cả”, đưa ra ví dụ nổi bật, mức độ cao hơn phần trước. Có thể đứng trước động từ, trước danh từ hoặc nối hai vế câu. Hay đi với 都/也: 甚至连…都/也….

  • 现在买菜、坐车,甚至交水费都可以用手机。

    Xiànzài mǎi cài, zuò chē, shènzhì jiāo shuǐfèi dōu kěyǐ yòng shǒujī.

    Bây giờ mua rau, đi xe, thậm chí đóng tiền nước đều dùng điện thoại được.

  • 他太爱玩手机了,甚至吃饭的时候也在看。

    Tā tài ài wán shǒujī le, shènzhì chī fàn de shíhou yě zài kàn.

    Cậu ấy nghiện điện thoại quá, thậm chí lúc ăn cơm cũng xem.

  • 这个软件很简单,甚至连八十岁的奶奶都会用。

    Zhège ruǎnjiàn hěn jiǎndān, shènzhì lián bāshí suì de nǎinai dōu huì yòng.

    Phần mềm này rất dễ, ngay cả bà nội tám mươi tuổi cũng biết dùng.

So với tiếng Việt

甚至 đứng TRƯỚC thành phần được nhấn mạnh, giống “thậm chí” tiếng Việt. Lỗi hay gặp: đặt 甚至 cuối câu, hoặc dùng cho mức độ thấp hơn. Khi dùng 连 thì nhớ có 都/也 ở sau.

Trong bài: Công nghệ và thương mại điện tử

由于… – do…, bởi vì…

由于 + nguyên nhân, + (所以/因此) + kết quả

由于 nêu nguyên nhân, nghĩa như 因为 nhưng trang trọng hơn, hay dùng trong văn viết, thông báo, tin tức. Vế sau có thể dùng 所以 hoặc 因此; 由于 còn có thể đi với cụm danh từ: 由于天气原因.

  • 由于下大雨,很多航班都晚点了。

    Yóuyú xià dàyǔ, hěn duō hángbān dōu wǎndiǎn le.

    Do mưa to, nhiều chuyến bay bị trễ.

  • 由于城市规模不断扩大,堵车越来越严重。

    Yóuyú chéngshì guīmó bùduàn kuòdà, dǔchē yuè lái yuè yánzhòng.

    Do quy mô thành phố không ngừng mở rộng, tắc đường ngày càng nghiêm trọng.

  • 由于天气原因,本次列车停运。

    Yóuyú tiānqì yuányīn, běn cì lièchē tíngyùn.

    Do thời tiết, chuyến tàu này tạm dừng chạy.

So với tiếng Việt

“Do… nên…” trong tiếng Việt → 由于…所以/因此. Không nói 因为…由于 (lặp nguyên nhân). Nghe thông báo ở sân bay, ga tàu Trung Quốc, câu mở đầu bằng 由于… gần như chắc chắn là tin xấu: trễ chuyến, hủy chuyến.

Trong bài: Giao thông và đô thị hóa

于是 – thế là, liền

Sự việc 1, + 于是 + (chủ ngữ) + sự việc 2

于是 nối hai sự việc trong quá khứ, việc sau xảy ra tiếp theo và do việc trước dẫn tới: “thế là, vì vậy liền”. Hay dùng khi kể chuyện. Khác 所以 (thiên về quan hệ nhân – quả, dùng được cả cho hiện tại, tương lai).

  • 路上太堵了,于是我下车步行去公司。

    Lùshang tài dǔ le, yúshì wǒ xià chē bùxíng qù gōngsī.

    Đường tắc quá, thế là tôi xuống xe đi bộ đến công ty.

  • 市区的房子太贵,于是他们搬到了郊区。

    Shìqū de fángzi tài guì, yúshì tāmen bāndàole jiāoqū.

    Nhà nội thành đắt quá, thế là họ chuyển ra ngoại ô.

  • 航班晚点了,于是我们在机场吃了晚饭。

    Hángbān wǎndiǎn le, yúshì wǒmen zài jīchǎng chīle wǎnfàn.

    Chuyến bay bị trễ, thế là chúng tôi ăn tối ở sân bay.

So với tiếng Việt

于是 dùng cho việc đã xảy ra, nên vế sau thường có 了. Không dùng 于是 cho lời khuyên, kế hoạch: “Trời mưa nên mai bạn mang ô” phải nói 所以, không nói 于是.

Trong bài: Giao thông và đô thị hóa

恐怕 – e rằng, sợ là

(Chủ ngữ) + 恐怕 + phán đoán (thường là điều không mong muốn)

恐怕 là phó từ chỉ phán đoán, đoán chừng, nghĩa “e rằng, chắc là, sợ là”, thường kèm lo lắng về một kết quả không tốt. Có thể đứng đầu câu hoặc sau chủ ngữ. Cũng dùng để từ chối khéo: 恐怕不行.

  • 现在是下班时间,恐怕会堵车。

    Xiànzài shì xiàbān shíjiān, kǒngpà huì dǔchē.

    Bây giờ là giờ tan tầm, e là sẽ tắc đường.

  • 你明天恐怕赶不上那趟高铁了。

    Nǐ míngtiān kǒngpà gǎn bu shàng nà tàng gāotiě le.

    Mai e rằng bạn không kịp chuyến tàu cao tốc đó rồi.

  • 这么晚了,恐怕没有巴士了,我们打车吧。

    Zhème wǎn le, kǒngpà méiyǒu bāshì le, wǒmen dǎchē ba.

    Muộn thế này rồi, sợ là hết xe buýt, mình gọi taxi đi.

So với tiếng Việt

恐怕 ở đây không có nghĩa “sợ hãi” (sợ là 害怕/怕). Câu 我恐怕狗 là sai; muốn nói “tôi sợ chó” phải dùng 我怕狗. 恐怕 giống “e là” trong tiếng Việt: lịch sự, mềm mỏng khi báo tin không vui.

Trong bài: Giao thông và đô thị hóa

难道…吗? – lẽ nào…, chẳng lẽ… (câu phản vấn)

(Chủ ngữ) + 难道 + câu khẳng định / phủ định + 吗?

Ở HSK 3 bạn đã học 不是…吗 (chẳng phải… sao?) để nhắc điều người nghe đã biết. 难道…吗 mạnh hơn: “lẽ nào…?, chẳng lẽ…?”, thể hiện ngạc nhiên, không tin hoặc không đồng tình, và nghĩa thật NGƯỢC với hình thức câu: 难道你不知道吗? = bạn phải biết chứ; 难道他会骗你吗? = anh ấy không lừa bạn đâu. 难道 đứng trước hoặc sau chủ ngữ đều được.

  • 难道越南人过年不吃饺子吗?

    Nándào Yuènánrén guònián bù chī jiǎozi ma?

    Chẳng lẽ người Việt ăn Tết không ăn sủi cảo à?

  • 这么重要的事,难道你一点儿都不在乎吗?

    Zhème zhòngyào de shì, nándào nǐ yīdiǎnr dōu bù zàihu ma?

    Việc quan trọng thế này, lẽ nào bạn chẳng bận tâm chút nào sao?

  • 你难道忘了今天是妈妈的生日吗?

    Nǐ nándào wàngle jīntiān shì māma de shēngrì ma?

    Lẽ nào con quên hôm nay là sinh nhật mẹ rồi sao?

So với tiếng Việt

Câu phản vấn mang nghĩa NGƯỢC với hình thức: 难道你不知道吗 = “bạn biết rồi mà”. Người Việt nghe dễ trả lời 对 hay 不 lung tung. Lỗi hay gặp: quên 吗 ở cuối câu 难道. So sánh: 你不是知道吗?(chẳng phải bạn biết rồi sao – nhắc nhẹ) và 难道你不知道吗?(lẽ nào bạn không biết – trách, ngạc nhiên).

Trong bài: Khác biệt văn hóa Việt – Trung

毕竟 – dù sao thì, suy cho cùng

…, (chủ ngữ) + 毕竟 + lý do / sự thật cốt lõi

毕竟 nhấn mạnh một sự thật cốt lõi không thay đổi được, dùng để giải thích hoặc bào chữa: “dù sao thì, xét cho cùng”. Hay đi sau vế nêu hiện tượng, có ý “nên cũng dễ hiểu”.

  • 他说中文还有点儿慢,毕竟才学了一年。

    Tā shuō Zhōngwén hái yǒudiǎnr màn, bìjìng cái xuéle yī nián.

    Cậu ấy nói tiếng Trung còn hơi chậm, dù sao mới học có một năm.

  • 越南和中国的文化虽然很像,但毕竟是两个国家。

    Yuènán hé Zhōngguó de wénhuà suīrán hěn xiàng, dàn bìjìng shì liǎng ge guójiā.

    Văn hóa Việt Nam và Trung Quốc tuy rất giống nhau, nhưng suy cho cùng vẫn là hai quốc gia.

  • 别生他的气了,他毕竟还是个孩子。

    Bié shēng tā de qì le, tā bìjìng háishi ge háizi.

    Đừng giận nó nữa, dù sao nó vẫn còn là trẻ con.

So với tiếng Việt

毕竟 không có nghĩa “cuối cùng” theo thời gian (đó là 终于 / 最后). Câu 我毕竟到了 (tôi cuối cùng đã đến) là sai → 我终于到了. 毕竟 hay đứng sau chủ ngữ hoặc sau 但(是).

Trong bài: Khác biệt văn hóa Việt – Trung

并且 – và, hơn nữa

Động từ/tính từ 1 + 并且 + động từ/tính từ 2; Vế 1, 并且 + vế 2

并且 nối hai động từ, tính từ hoặc hai vế câu theo quan hệ tăng tiến/song song: “và, đồng thời, hơn nữa”. Trang trọng hơn 而且 một chút. Không dùng 并且 để nối hai danh từ (dùng 和).

  • 他学会了包饺子,并且教会了全家人。

    Tā xuéhuìle bāo jiǎozi, bìngqiě jiāohuìle quán jiā rén.

    Anh ấy đã học được cách gói sủi cảo, và còn dạy cho cả nhà.

  • 这家饭店的菜很地道,并且价格也不贵。

    Zhè jiā fàndiàn de cài hěn dìdao, bìngqiě jiàgé yě bù guì.

    Món ăn ở nhà hàng này rất chuẩn vị, hơn nữa giá cũng không đắt.

  • 我们要了解并且尊重别国的风俗。

    Wǒmen yào liǎojiě bìngqiě zūnzhòng biéguó de fēngsú.

    Chúng ta cần tìm hiểu và tôn trọng phong tục của nước khác.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng “và” cho cả danh từ lẫn động từ, nhưng tiếng Trung: danh từ + 和 + danh từ (中国和越南); động từ/vế câu + 并且. Câu 我并且他都是学生 là sai → 我和他都是学生.

Trong bài: Khác biệt văn hóa Việt – Trung

不管…都/也… – bất kể… đều…

不管 + (từ để hỏi / A还是B / 多 + tính từ), + 都/也 + kết quả

Nghĩa và cách dùng giống 无论…都 (bài 2): bất kể điều kiện nào, kết quả không đổi. 不管 mang màu khẩu ngữ hơn, rất hay dùng khi nói chuyện hằng ngày. Sau 不管 cũng phải là yếu tố “mở”: đại từ nghi vấn (谁, 什么), 多/多么 + tính từ, A还是B, hoặc dạng khẳng định – phủ định (同意不同意).

  • 不管工作多忙,他每个周末都回家看望父母。

    Bùguǎn gōngzuò duō máng, tā měi ge zhōumò dōu huí jiā kànwàng fùmǔ.

    Bất kể công việc bận đến đâu, cuối tuần nào anh ấy cũng về thăm bố mẹ.

  • 不管谁先下班,谁就做饭。

    Bùguǎn shéi xiān xiàbān, shéi jiù zuò fàn.

    Ai tan làm trước thì người đó nấu cơm.

  • 不管你同意不同意,我都要跟她结婚。

    Bùguǎn nǐ tóngyì bù tóngyì, wǒ dōu yào gēn tā jiéhūn.

    Dù bố đồng ý hay không, con vẫn sẽ cưới cô ấy.

So với tiếng Việt

不管 ở đây không có nghĩa “không quản/mặc kệ” như khi làm động từ (这件事我不管 = việc này tôi mặc kệ). Lỗi giống 无论: sau 不管 không đặt câu khẳng định đơn giản (不管工作很忙 — sai). Mẫu 谁…谁… (ai… người đó…) rất hay gặp trong văn nói.

Trong bài: Gia đình hiện đại

宁可…也… – thà… cũng…

宁可 + A, 也 (不/要) + B

Sau khi cân nhắc hai việc đều không hay, người nói chọn A (chịu thiệt) để đạt hoặc tránh B. 宁可 A 也不 B = thà A chứ không B; 宁可 A 也要 B = thà chịu A để có được B. Thể hiện quyết tâm mạnh.

  • 我宁可自己辛苦一点儿,也不让父母担心。

    Wǒ nìngkě zìjǐ xīnkǔ yīdiǎnr, yě bù ràng fùmǔ dānxīn.

    Tôi thà mình vất vả một chút chứ không để bố mẹ lo lắng.

  • 她宁可晚点儿结婚,也要找一个真正爱她的人。

    Tā nìngkě wǎn diǎnr jiéhūn, yě yào zhǎo yī ge zhēnzhèng ài tā de rén.

    Cô ấy thà cưới muộn một chút, cũng phải tìm được người thật lòng yêu mình.

  • 爷爷宁可住在老家,也不愿意搬到城市。

    Yéye nìngkě zhù zài lǎojiā, yě bù yuànyì bāndào chéngshì.

    Ông thà ở quê chứ không muốn chuyển lên thành phố.

So với tiếng Việt

宁 trong 宁可 đọc nìng (thanh 4), khác níng (thanh 2) trong 宁静. Tiếng Việt “thà… còn hơn…” đặt phần “hơn” ở cuối, nên người Việt hay đảo vị trí A, B. Nhớ: việc mình CHỌN đứng ngay sau 宁可.

Trong bài: Gia đình hiện đại

何况 – huống hồ, huống chi

Vế 1 (trường hợp dễ hơn), (更)何况 + vế 2 (trường hợp hiển nhiên hơn)

何况 dùng để suy luận theo kiểu “trường hợp A còn như thế, huống chi trường hợp B”. Vế đầu thường có 都, 也, 连…都/也. Thêm 更 thành 更何况 để nhấn mạnh. Hay dùng khi lập luận, thuyết phục.

  • 照顾一个孩子都这么累,何况两个呢?

    Zhàogù yī ge háizi dōu zhème lèi, hékuàng liǎng ge ne?

    Chăm một đứa đã mệt thế này, huống chi hai đứa?

  • 连大人都觉得难,何况小孩子?

    Lián dàrén dōu juéde nán, hékuàng xiǎo háizi?

    Ngay cả người lớn còn thấy khó, huống hồ trẻ con?

  • 做家务不难,更何况现在有这么多机器帮忙。

    Zuò jiāwù bù nán, gèng hékuàng xiànzài yǒu zhème duō jīqì bāngmáng.

    Làm việc nhà không khó, huống chi bây giờ có bao nhiêu máy móc giúp sức.

So với tiếng Việt

何况 giống hệt “huống hồ” trong tiếng Việt (Hán Việt: hà huống). Lỗi hay gặp: vế đầu thiếu 都/也/连 nên câu mất ý so sánh mức độ. Câu với 何况 thường kết thúc bằng 呢 hoặc dấu hỏi.

Trong bài: Gia đình hiện đại

究竟 / 到底 – rốt cuộc, đến cùng thì

究竟/到底 + câu hỏi (có từ để hỏi hoặc A不A)

究竟 và 到底 dùng trong câu hỏi để truy hỏi đến cùng, thể hiện sốt ruột hoặc muốn biết rõ: “rốt cuộc…?”. 到底 hay dùng trong khẩu ngữ, 究竟 trang trọng hơn. Câu dùng 究竟/到底 không thêm 吗 ở cuối; phải có từ để hỏi hoặc dạng A不A, A还是B.

  • 我们究竟什么时候出发?

    Wǒmen jiūjìng shénme shíhou chūfā?

    Rốt cuộc khi nào chúng ta xuất phát?

  • 你到底去不去下龙湾?

    Nǐ dàodǐ qù bu qù Xiàlóngwān?

    Rốt cuộc bạn có đi Hạ Long không?

  • 这座寺庙到底是哪一年建的?

    Zhè zuò sìmiào dàodǐ shì nǎ yī nián jiàn de?

    Ngôi chùa này rốt cuộc được xây năm nào?

So với tiếng Việt

Lỗi rất hay gặp: 你到底去吗? — sai, vì 到底 không đi với 吗; phải nói 你到底去不去? Ngoài câu hỏi, 到底 còn nghĩa “cuối cùng thì” (他到底还是来了) — nghĩa này ít gặp ở HSK 4.

Trong bài: Du lịch và di sản

万一 – lỡ như, nhỡ mà

万一 + tình huống xấu (khả năng nhỏ), + (就) + cách xử lý

万一 nêu một khả năng rất nhỏ nhưng nếu xảy ra thì không hay: “lỡ như, nhỡ mà”. Vế sau thường là cách đối phó hoặc lời khuyên chuẩn bị trước. Cũng dùng như danh từ: 以防万一 (phòng khi bất trắc).

  • 带上雨伞吧,万一下雨呢?

    Dàishang yǔsǎn ba, wànyī xià yǔ ne?

    Mang ô theo đi, lỡ trời mưa thì sao?

  • 万一找不到酒店,你就给导游打电话。

    Wànyī zhǎo bu dào jiǔdiàn, nǐ jiù gěi dǎoyóu dǎ diànhuà.

    Nhỡ không tìm thấy khách sạn thì bạn gọi cho hướng dẫn viên.

  • 护照最好复印一份,以防万一。

    Hùzhào zuìhǎo fùyìn yī fèn, yǐfáng wànyī.

    Hộ chiếu tốt nhất nên photo một bản, phòng khi bất trắc.

So với tiếng Việt

万一 chỉ dùng cho việc KHÔNG mong muốn. “Nếu mai trời đẹp thì đi chơi” dùng 如果, không dùng 万一. Người Việt dễ nhớ vì Hán Việt “vạn nhất” cũng có trong tiếng Việt cổ với nghĩa tương tự.

Trong bài: Du lịch và di sản

此外 – ngoài ra

Ý 1. 此外, + ý bổ sung

此外 nghĩa “ngoài ra, bên cạnh đó”, dùng để bổ sung thêm thông tin sau khi đã nói một ý. Thường đứng đầu câu hoặc đầu vế sau, theo sau là dấu phẩy. Trang trọng, hay dùng trong văn viết, giới thiệu, thuyết minh.

  • 顺化有很多古老的宫殿。此外,这里的菜也很有名。

    Shùnhuà yǒu hěn duō gǔlǎo de gōngdiàn. Cǐwài, zhèlǐ de cài yě hěn yǒumíng.

    Huế có nhiều cung điện cổ. Ngoài ra, ẩm thực ở đây cũng rất nổi tiếng.

  • 请带好护照和机票,此外,还要准备一些现金。

    Qǐng dàihǎo hùzhào hé jīpiào, cǐwài, hái yào zhǔnbèi yīxiē xiànjīn.

    Vui lòng mang theo hộ chiếu và vé máy bay, ngoài ra còn phải chuẩn bị ít tiền mặt.

  • 价格包括酒店和三餐,此外没有别的费用。

    Jiàgé bāokuò jiǔdiàn hé sān cān, cǐwài méiyǒu bié de fèiyòng.

    Giá bao gồm khách sạn và ba bữa ăn, ngoài ra không có chi phí nào khác.

So với tiếng Việt

此外 = 除此以外 (ngoài cái này ra). Lỗi hay gặp: viết 此外 + danh từ như 此外他 = “ngoài anh ấy” — sai; muốn nói “ngoài anh ấy” phải dùng 除了他以外. Khi viết đoạn văn HSK, dùng 此外 giúp bài mạch lạc hơn.

Trong bài: Du lịch và di sản

似乎 / 看来 – hình như, xem ra

Chủ ngữ + 似乎 + phán đoán; 看来, + kết luận

似乎 là phó từ, nghĩa “hình như, dường như”, phán đoán không chắc chắn, giọng văn viết hơn 好像. 看来 nghĩa “xem ra, có vẻ”, dùng khi rút ra kết luận từ điều vừa thấy, nghe; thường đứng đầu câu, sau có dấu phẩy.

  • 这个广告似乎对年轻人很有吸引力。

    Zhège guǎnggào sìhū duì niánqīngrén hěn yǒu xīyǐnlì.

    Quảng cáo này dường như rất hấp dẫn với người trẻ.

  • 他似乎不太愿意接受采访。

    Tā sìhū bù tài yuànyì jiēshòu cǎifǎng.

    Anh ấy hình như không mấy muốn nhận lời phỏng vấn.

  • 评论这么多,看来大家都很关心这件事。

    Pínglùn zhème duō, kànlai dàjiā dōu hěn guānxīn zhè jiàn shì.

    Bình luận nhiều thế này, xem ra mọi người đều rất quan tâm chuyện này.

So với tiếng Việt

似乎 đọc sìhū; 似 còn đọc shì trong 似的 (…似的 = giống như…). 看来 đọc kànlai (thanh nhẹ ở 来). Đừng nhầm 看来 (xem ra) với 看起来 (trông có vẻ, nói về bề ngoài): 他看起来很累.

Trong bài: Truyền thông và quảng cáo

反而 – trái lại, ngược lại

Lẽ ra A, (không những không A,) 反而 + B (ngược với dự đoán)

反而 diễn tả kết quả trái ngược với điều đáng lẽ xảy ra: “trái lại, ngược lại còn”. Thường dùng với khuôn 不但不/没…, 反而…. Đứng trước động từ/tính từ ở vế sau, sau chủ ngữ.

  • 这个广告花了很多钱,销售反而下降了。

    Zhège guǎnggào huāle hěn duō qián, xiāoshòu fǎn'ér xiàjiàng le.

    Quảng cáo này tốn nhiều tiền, doanh số trái lại còn giảm.

  • 他不但没有生气,反而笑了。

    Tā bùdàn méiyǒu shēngqì, fǎn'ér xiào le.

    Anh ấy không những không giận mà ngược lại còn cười.

  • 广告做得太多,反而让人觉得烦。

    Guǎnggào zuò de tài duō, fǎn'ér ràng rén juéde fán.

    Quảng cáo làm quá nhiều, trái lại khiến người ta thấy phiền.

So với tiếng Việt

反而 nhấn mạnh sự “ngược đời” so với mong đợi, không chỉ đơn giản là đối lập như 但是. Câu 我喜欢茶,反而他喜欢咖啡 là sai (chỉ là hai sở thích khác nhau) → dùng 而 hoặc 但是. 反而 đứng sau chủ ngữ: 他反而笑了, không nói 反而他笑了.

Trong bài: Truyền thông và quảng cáo

竟然 – vậy mà, không ngờ

Chủ ngữ + 竟然 + sự việc bất ngờ

竟然 thể hiện sự ngạc nhiên vì sự việc vượt ngoài dự đoán: “vậy mà, thế mà, không ngờ”. Đứng sau chủ ngữ, trước động từ. Có thể dùng với chuyện tốt lẫn chuyện xấu.

  • 这个视频一天竟然有一百万人看。

    Zhège shìpín yī tiān jìngrán yǒu yībǎi wàn rén kàn.

    Video này vậy mà một ngày có một triệu người xem.

  • 广告上说得那么好,质量竟然这么差。

    Guǎnggào shang shuō de nàme hǎo, zhìliàng jìngrán zhème chà.

    Quảng cáo nói hay thế, không ngờ chất lượng kém đến vậy.

  • 这么有名的模特儿,竟然是越南人!

    Zhème yǒumíng de mótèr, jìngrán shì Yuènánrén!

    Người mẫu nổi tiếng thế, hóa ra lại là người Việt Nam!

So với tiếng Việt

竟然 giống “vậy mà / không ngờ” — biểu lộ cảm xúc của người nói, không phải sự thật trung tính. Đừng đặt 竟然 đầu câu trước chủ ngữ (竟然他来了 nghe gượng) → 他竟然来了. Gần nghĩa: 居然 (khẩu ngữ hơn).

Trong bài: Truyền thông và quảng cáo

既然…就… – đã… thì…

既然 + sự thật/tiền đề đã biết, + (chủ ngữ) + 就 + kết luận/quyết định

既然 nêu một sự thật đã được thừa nhận, vế sau rút ra kết luận hoặc lời khuyên dựa trên đó: “đã… thì…”. Khác 因为 (nêu nguyên nhân khách quan), 既然 nhấn vào việc “đã như vậy rồi thì nên…”. Vế sau thường dùng 就, 也, 还, hoặc câu hỏi phản vấn.

  • 既然你这么喜欢做咖啡,就开一家自己的店吧。

    Jìrán nǐ zhème xǐhuan zuò kāfēi, jiù kāi yī jiā zìjǐ de diàn ba.

    Đã thích pha cà phê đến vậy thì mở một quán của riêng mình đi.

  • 既然决定了,就不要怕失败。

    Jìrán juédìng le, jiù bùyào pà shībài.

    Đã quyết rồi thì đừng sợ thất bại.

  • 既然公司已经倒闭了,还想那么多干什么?

    Jìrán gōngsī yǐjīng dǎobì le, hái xiǎng nàme duō gàn shénme?

    Công ty đã đóng cửa rồi thì còn nghĩ nhiều làm gì?

So với tiếng Việt

既然 (jìrán) khác 虽然 (suīrán): 既然 = “đã… thì”, 虽然 = “tuy… nhưng”. Người Việt hay viết 既然…所以 — nên dùng 既然…就. 既 ở đây cùng chữ với 既…又 (bài 1), đọc jì.

Trong bài: Ước mơ và khởi nghiệp

一旦…就… – một khi… thì…

一旦 + điều kiện/sự việc (chưa hoặc ít khi xảy ra), + 就 + kết quả

一旦 nghĩa “một khi, hễ mà”, nêu một sự việc mà nếu xảy ra thì kéo theo kết quả quan trọng (tốt hoặc xấu). Vế sau thường có 就. Hay dùng khi phân tích rủi ro, cảnh báo.

  • 一旦失去客户的信任,就很难再赢得回来。

    Yīdàn shīqù kèhù de xìnrèn, jiù hěn nán zài yíngdé huílai.

    Một khi đã mất lòng tin của khách hàng thì rất khó giành lại.

  • 一旦决定创业,你就要做好吃苦的准备。

    Yīdàn juédìng chuàngyè, nǐ jiù yào zuòhǎo chīkǔ de zhǔnbèi.

    Một khi quyết định khởi nghiệp, bạn phải chuẩn bị tinh thần chịu khổ.

  • 这个项目一旦成功,公司就能摆脱困难。

    Zhège xiàngmù yīdàn chénggōng, gōngsī jiù néng bǎituō kùnnan.

    Dự án này một khi thành công, công ty sẽ thoát khỏi khó khăn.

So với tiếng Việt

一旦 gần với 如果 nhưng nhấn mạnh “chỉ cần việc đó xảy ra là…”, giọng trang trọng hơn. Không dùng 一旦 cho việc lặp lại hằng ngày (每天一旦…). Vị trí: trước hoặc sau chủ ngữ đều được: 你一旦… / 一旦你….

Trong bài: Ước mơ và khởi nghiệp

总之 – tóm lại, nói chung

Các ý cụ thể…. 总之, + kết luận chung

总之 dùng để tổng kết sau khi đã liệt kê các ý hoặc trường hợp: “tóm lại, nói tóm lại, dù sao thì”. Đứng đầu câu kết luận, sau có dấu phẩy. Rất hữu ích khi kết thúc bài nói, bài viết.

  • 创业需要资金、经验和勇气。总之,不是一件容易的事。

    Chuàngyè xūyào zījīn, jīngyàn hé yǒngqì. Zǒngzhī, bù shì yī jiàn róngyì de shì.

    Khởi nghiệp cần vốn, kinh nghiệm và can đảm. Tóm lại, không phải chuyện dễ.

  • 不管是成功还是失败,总之,我都不后悔。

    Bùguǎn shì chénggōng háishi shībài, zǒngzhī, wǒ dōu bù hòuhuǐ.

    Dù thành công hay thất bại, nói chung tôi đều không hối hận.

  • 价格、质量、服务都很重要,总之,要让顾客满意。

    Jiàgé, zhìliàng, fúwù dōu hěn zhòngyào, zǒngzhī, yào ràng gùkè mǎnyì.

    Giá cả, chất lượng, dịch vụ đều quan trọng, tóm lại là phải làm khách hàng hài lòng.

So với tiếng Việt

总之 (zǒngzhī) = “tổng chi” Hán Việt, nghĩa “tóm lại”. Trong bài viết HSK, dùng 总之 ở câu cuối giúp đoạn văn có kết luận rõ ràng. Đừng nhầm với 总是 (zǒngshì – luôn luôn).

Trong bài: Ước mơ và khởi nghiệp

HSK 5Trung cấp 2

以便 – để tiện, nhằm (nêu mục đích ở vế sau)

Vế làm việc A,以便 + mục đích B

以便 đứng đầu vế sau, cho biết làm A là để B được thực hiện dễ dàng hơn. Đây là liên từ văn viết, hay gặp trong thông báo, email công việc. Vế B thường là việc chưa xảy ra nên không dùng 了 sau động từ.

  • 请留下您的电话,以便我们及时联系您。

    Qǐng liúxià nín de diànhuà, yǐbiàn wǒmen jíshí liánxì nín.

    Xin để lại số điện thoại để chúng tôi kịp thời liên hệ với quý khách.

  • 他把订单整理成表格,以便老板查看。

    Tā bǎ dìngdān zhěnglǐ chéng biǎogé, yǐbiàn lǎobǎn chákàn.

    Anh ấy sắp xếp đơn hàng thành bảng để sếp tiện xem.

  • 平台收集用户数据,以便推荐更合适的商品。

    Píngtái shōují yònghù shùjù, yǐbiàn tuījiàn gèng héshì de shāngpǐn.

    Nền tảng thu thập dữ liệu người dùng nhằm gợi ý sản phẩm phù hợp hơn.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt hay đặt “Để…” lên đầu câu, nhưng 以便 KHÔNG đứng đầu câu. Sai: 以便我们联系,请留下电话。 Muốn đưa mục đích lên trước thì dùng 为了: 为了方便联系,请留下电话。

Trong bài: Kinh tế số

从而 – từ đó, nhờ vậy mà (nêu kết quả)

Cách làm / nguyên nhân A,从而 + động từ + kết quả B

从而 nối vế sau, nêu kết quả hoặc bước tiến đạt được nhờ việc ở vế trước. Hai vế thường cùng chủ ngữ, vế sau lược chủ ngữ và đi thẳng vào động từ (提高、减少、促进、实现...). Đây là từ văn viết, rất hay gặp trong báo chí.

  • 公司改进了物流系统,从而缩短了送货时间。

    Gōngsī gǎijìnle wùliú xìtǒng, cóng'ér suōduǎnle sònghuò shíjiān.

    Công ty cải tiến hệ thống giao vận, nhờ đó rút ngắn thời gian giao hàng.

  • 他每天坚持直播,从而积累了大量粉丝。

    Tā měi tiān jiānchí zhíbō, cóng'ér jīlěile dàliàng fěnsī.

    Anh ấy kiên trì livestream mỗi ngày, từ đó tích lũy được lượng lớn người theo dõi.

  • 移动支付减少了现金使用,从而提高了交易效率。

    Yídòng zhīfù jiǎnshǎole xiànjīn shǐyòng, cóng'ér tígāole jiāoyì xiàolǜ.

    Thanh toán di động giảm việc dùng tiền mặt, nhờ vậy nâng cao hiệu suất giao dịch.

So với tiếng Việt

Đừng thay 所以 bằng 从而 trong mọi câu. 所以 dùng được cả khi nói và sau lý do khách quan (下雨了,所以…); 从而 chỉ dùng khi vế trước là việc chủ thể làm, vế sau là kết quả của việc đó, và sau 从而 là động từ chứ không phải một chủ ngữ mới.

Trong bài: Kinh tế số

与此同时 – đồng thời, cùng lúc đó

Câu A。与此同时,câu B

与此同时 (nghĩa đen: cùng lúc với việc này) nối hai câu hoặc hai đoạn, cho biết B diễn ra song song với A hoặc là mặt khác của cùng vấn đề. Thường đứng đầu câu sau, có dấu phẩy theo sau; cũng có thể đứng sau dấu phẩy trong một câu dài.

  • 网购越来越方便。与此同时,消费者也更容易冲动消费。

    Wǎnggòu yuèláiyuè fāngbiàn. Yǔ cǐ tóngshí, xiāofèizhě yě gèng róngyì chōngdòng xiāofèi.

    Mua sắm online ngày càng tiện. Đồng thời, người tiêu dùng cũng dễ mua sắm bốc đồng hơn.

  • 公司扩大了线上业务,与此同时关闭了两家实体店。

    Gōngsī kuòdàle xiànshàng yèwù, yǔ cǐ tóngshí guānbìle liǎng jiā shítǐdiàn.

    Công ty mở rộng kinh doanh trực tuyến, cùng lúc đó đóng cửa hai cửa hàng truyền thống.

  • 电子支付带来了便捷,与此同时也带来了隐私风险。

    Diànzǐ zhīfù dàiláile biànjié, yǔ cǐ tóngshí yě dàiláile yǐnsī fēngxiǎn.

    Thanh toán điện tử mang lại sự tiện lợi, đồng thời cũng mang đến rủi ro về quyền riêng tư.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt dùng “đồng thời” cho cả hai hành động nhỏ của một người; tiếng Trung khi đó chỉ cần 同时 hoặc 一边…一边 (他一边吃饭一边看手机). 与此同时 mang sắc thái văn viết, dùng để nối hai sự việc hoặc hai mặt của vấn đề.

Trong bài: Kinh tế số

进而 – rồi tiến thêm một bước

A(bước 1),进而 + B(bước tiếp theo, ở mức cao hơn)

进而 nối hai hành động hoặc hai hệ quả theo thứ tự tăng dần: làm được A rồi trên cơ sở đó tiến tới B. Khác 从而 (nêu kết quả), 进而 nhấn mạnh “bước tiếp theo, sâu hơn”. Đây là từ văn viết, hay đi trong chuỗi nguyên nhân – hệ quả của bài báo.

  • 气候变暖导致干旱,进而影响粮食生产。

    Qìhòu biànnuǎn dǎozhì gānhàn, jìn'ér yǐngxiǎng liángshi shēngchǎn.

    Khí hậu nóng lên gây hạn hán, rồi từ đó ảnh hưởng đến sản xuất lương thực.

  • 我们先在学校推广垃圾分类,进而影响每个家庭。

    Wǒmen xiān zài xuéxiào tuīguǎng lājī fēnlèi, jìn'ér yǐngxiǎng měi gè jiātíng.

    Chúng tôi phổ biến phân loại rác ở trường trước, rồi tiến tới tác động đến từng gia đình.

  • 森林减少会使物种失去家园,进而走向灭绝。

    Sēnlín jiǎnshǎo huì shǐ wùzhǒng shīqù jiāyuán, jìn'ér zǒuxiàng mièjué.

    Rừng bị thu hẹp khiến các loài mất nơi sống, rồi dần đi đến tuyệt chủng.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dịch “từ đó” bằng 从而 cho mọi trường hợp. Hãy tự hỏi: B có phải “nấc cao hơn” của A không? Nếu là chuỗi lan rộng (hạn hán → mất mùa → giá tăng) thì 进而 tự nhiên hơn.

Trong bài: Môi trường và phát triển bền vững

以免 – để tránh, kẻo

Làm A,以免 + điều không mong muốn B

以免 đứng đầu vế sau, nêu điều xấu muốn tránh khi làm A. Vế B là việc tiêu cực, không cần thêm 不. Dùng nhiều trong lời nhắc, biển báo, văn bản hướng dẫn. Gần nghĩa với 免得 (khẩu ngữ hơn).

  • 请把电池单独回收,以免污染环境。

    Qǐng bǎ diànchí dāndú huíshōu, yǐmiǎn wūrǎn huánjìng.

    Xin thu gom pin riêng để tránh gây ô nhiễm môi trường.

  • 洪水来之前,村民们提前搬走了,以免发生危险。

    Hóngshuǐ lái zhīqián, cūnmínmen tíqián bānzǒu le, yǐmiǎn fāshēng wēixiǎn.

    Trước khi lũ về, dân làng đã chuyển đi sớm để tránh nguy hiểm.

  • 出门记得关灯,以免浪费能源。

    Chūmén jìde guān dēng, yǐmiǎn làngfèi néngyuán.

    Ra khỏi nhà nhớ tắt đèn kẻo lãng phí năng lượng.

So với tiếng Việt

Lỗi hay gặp: thêm 不 sau 以免 vì tiếng Việt nói “để không bị…”. Sai: 以免不迟到. Đúng: 早点出发,以免迟到。 (以免 đã chứa nghĩa “tránh”).

Trong bài: Môi trường và phát triển bền vững

由此可见 / 可见 – từ đó có thể thấy

Dẫn chứng / số liệu。由此可见,kết luận

由此可见 dùng để rút ra kết luận từ dẫn chứng vừa nêu, rất hay gặp ở cuối đoạn nghị luận. Dạng ngắn 可见 cũng dùng được, cả trong khẩu ngữ. Kết luận sau đó phải thực sự suy ra được từ dẫn chứng phía trước.

  • 去年只有三成居民参加垃圾分类,今年已经超过七成。由此可见,宣传起了作用。

    Qùnián zhǐ yǒu sān chéng jūmín cānjiā lājī fēnlèi, jīnnián yǐjīng chāoguò qī chéng. Yóu cǐ kě jiàn, xuānchuán qǐle zuòyòng.

    Năm ngoái chỉ 30% cư dân tham gia phân loại rác, năm nay đã hơn 70%. Từ đó có thể thấy, tuyên truyền đã có tác dụng.

  • 这条河里又能看到鱼了,可见治理是有效果的。

    Zhè tiáo hé lǐ yòu néng kàndào yú le, kějiàn zhìlǐ shì yǒu xiàoguǒ de.

    Dòng sông này lại thấy cá rồi, đủ thấy việc xử lý có hiệu quả.

  • 很多年轻人自带水杯。由此可见,环保意识正在提高。

    Hěn duō niánqīngrén zì dài shuǐbēi. Yóu cǐ kě jiàn, huánbǎo yìshí zhèngzài tígāo.

    Nhiều người trẻ tự mang bình nước. Có thể thấy ý thức bảo vệ môi trường đang được nâng cao.

So với tiếng Việt

Đây là “câu chốt” rất đắt giá khi viết đoạn văn HSK 5: nêu 1–2 dẫn chứng rồi kết bằng 由此可见… Đừng dùng 所以 thay thế ở vị trí này, vì 所以 nghe giống văn nói và chỉ nêu kết quả chứ không phải kết luận suy ra.

Trong bài: Môi trường và phát triển bền vững

除非…否则 / 才… – trừ phi…, nếu không thì…

除非 + điều kiện duy nhất A,否则 / 不然 + kết quả B;除非 A,(chủ ngữ)才 + B

除非 nêu điều kiện duy nhất, bắt buộc phải có. Có hai khung: (1) 除非 A,否则/不然 B: không có A thì sẽ xảy ra B (B thường là kết quả xấu hoặc câu phủ định). (2) 除非 A,才 B: phải có A thì mới B, gần nghĩa 只有…才…. Hay gặp trong lời dặn của bác sĩ, quy định, lời cảnh báo.

  • 除非医生同意,否则你不能出院。

    Chúfēi yīshēng tóngyì, fǒuzé nǐ bù néng chūyuàn.

    Trừ phi bác sĩ đồng ý, nếu không thì anh không được xuất viện.

  • 除非按时吃药,不然血压很难降下来。

    Chúfēi ànshí chī yào, bùrán xuèyā hěn nán jiàng xiàlai.

    Trừ phi uống thuốc đúng giờ, không thì huyết áp khó mà hạ được.

  • 除非你陪他去,他才肯去医院检查。

    Chúfēi nǐ péi tā qù, tā cái kěn qù yīyuàn jiǎnchá.

    Phải có anh đi cùng thì ông ấy mới chịu đến viện kiểm tra.

So với tiếng Việt

Hán Việt “trừ phi” trùng nghĩa với tiếng Việt nên dễ hiểu, nhưng người Việt hay ghép 除非 với 就 (Sai: 除非你去,我就去). Vế sau chỉ dùng 否则/不然 (nếu không thì) hoặc 才 (mới). 否则 đứng đầu vế sau, trước chủ ngữ: 否则你不能…; 才 đứng sau chủ ngữ: 他才肯….

Trong bài: Y tế và già hóa dân số

难免 / 不免 – khó tránh khỏi

Hoàn cảnh A,Chủ ngữ + 难免 / 不免 + động từ / tính từ

难免 (nan miễn) nghĩa là “khó tránh khỏi”, dùng khi trong hoàn cảnh A thì xảy ra B là bình thường, dễ hiểu. 难免 có thể đứng trước động từ hoặc làm vị ngữ (这是难免的). 不免 cũng là “khó tránh”, nhưng chỉ đứng trước động từ/tính từ, thường nói về cảm xúc, phản ứng đã xảy ra.

  • 年纪大了,难免会有一些小毛病。

    Niánjì dà le, nánmiǎn huì yǒu yīxiē xiǎo máobìng.

    Tuổi cao rồi, khó tránh khỏi có vài bệnh vặt.

  • 第一次照顾病人,犯点儿错是难免的。

    Dì-yī cì zhàogù bìngrén, fàn diǎnr cuò shì nánmiǎn de.

    Lần đầu chăm người bệnh, mắc chút lỗi là khó tránh.

  • 看到父亲住院,她心里不免有些难过。

    Kàndào fùqīn zhùyuàn, tā xīnli bùmiǎn yǒuxiē nánguò.

    Thấy bố nằm viện, cô ấy trong lòng không khỏi buồn.

So với tiếng Việt

Hán Việt “nan miễn” = khó tránh, rất dễ nhớ. Lỗi hay gặp: dùng 难免 cho việc cố ý, chủ động (Sai: 我难免去看他). 难免 chỉ dùng cho điều ngoài ý muốn. Và 不免 không đứng một mình làm vị ngữ: nói 这是难免的, không nói 这是不免的.

Trong bài: Y tế và già hóa dân số

哪怕…也… – cho dù…, dù có… cũng…

哪怕 + giả thiết (thường là cực đoan) A,也 / 都 + B

哪怕 nêu một giả thiết bất lợi hoặc cực đoan, vế sau dùng 也 / 都 để khẳng định kết quả không đổi. Mang sắc thái quyết tâm, mạnh hơn 即使 và thường dùng trong khẩu ngữ lẫn văn viết.

  • 哪怕工作再忙,我每个周末也要回家陪父母。

    Nǎpà gōngzuò zài máng, wǒ měi gè zhōumò yě yào huí jiā péi fùmǔ.

    Dù công việc bận đến đâu, cuối tuần nào tôi cũng về nhà với bố mẹ.

  • 哪怕只是一点儿症状,也最好去医院检查一下。

    Nǎpà zhǐ shì yīdiǎnr zhèngzhuàng, yě zuìhǎo qù yīyuàn jiǎnchá yīxià.

    Dù chỉ có chút triệu chứng thôi cũng nên đến bệnh viện kiểm tra.

  • 哪怕每天只走二十分钟,对身体也有好处。

    Nǎpà měi tiān zhǐ zǒu èrshí fēnzhōng, duì shēntǐ yě yǒu hǎochù.

    Cho dù mỗi ngày chỉ đi bộ hai mươi phút cũng có lợi cho sức khỏe.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “dù… nhưng vẫn…” khiến người học viết 哪怕…但是…. Cách chuẩn là 哪怕…也…; 也 đứng sau chủ ngữ của vế sau (我…也要…), không đứng trước chủ ngữ.

Trong bài: Y tế và già hóa dân số

之所以…是因为… – sở dĩ… là vì…

Chủ ngữ + 之所以 + kết quả,是因为 / 是由于 + nguyên nhân

Khung này nêu kết quả trước rồi mới nhấn mạnh nguyên nhân, dùng khi người nghe đã biết kết quả và cần lời giải thích. 之所以 đứng sau chủ ngữ ở vế đầu; vế sau mở bằng 是因为. Rất trang trọng, hợp với văn nghị luận và thuyết trình.

  • 他之所以升职这么快,是因为他一直在进修。

    Tā zhīsuǒyǐ shēngzhí zhème kuài, shì yīnwèi tā yīzhí zài jìnxiū.

    Sở dĩ anh ấy thăng chức nhanh như vậy là vì anh ấy luôn học nâng cao.

  • 我之所以学中文,是因为我想去中国读硕士。

    Wǒ zhīsuǒyǐ xué Zhōngwén, shì yīnwèi wǒ xiǎng qù Zhōngguó dú shuòshì.

    Tôi học tiếng Trung là vì muốn sang Trung Quốc học thạc sĩ.

  • 在线课程之所以受欢迎,是因为时间很灵活。

    Zàixiàn kèchéng zhīsuǒyǐ shòu huānyíng, shì yīnwèi shíjiān hěn línghuó.

    Khóa học trực tuyến được ưa chuộng là vì thời gian rất linh hoạt.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt cũng có “sở dĩ… là vì…” (chính là 所以 Hán Việt), nên rất dễ nhớ. Chỉ cần lưu ý: chủ ngữ đứng TRƯỚC 之所以 (他之所以…), và vế sau là 是因为 chứ không dùng 所以 hay 因为 trơn.

Trong bài: Giáo dục và học suốt đời

未必 – chưa chắc, không hẳn

Chủ ngữ + 未必 + động từ / tính từ

未必 (vị tất) phủ định nhẹ nhàng một nhận định: “chưa chắc đã…”. Nghĩa gần với 不一定 nhưng trang trọng hơn và nghiêng về phủ định hơn. Hay dùng để phản bác một quan niệm phổ biến mà vẫn giữ lịch sự.

  • 学历高的人,能力未必强。

    Xuélì gāo de rén, nénglì wèibì qiáng.

    Người bằng cấp cao chưa chắc năng lực đã giỏi.

  • 上补习班未必能提高成绩。

    Shàng bǔxíbān wèibì néng tígāo chéngjì.

    Đi học thêm chưa chắc đã nâng được điểm.

  • 贵的课程未必适合你。

    Guì de kèchéng wèibì shìhé nǐ.

    Khóa học đắt chưa hẳn đã hợp với bạn.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt có “vị tất” trong văn cổ (“vị tất đã…”), chính là 未必. Đừng nhầm với 必须 (bắt buộc) hay 不必 (không cần). Thử thay bằng 不一定 xem câu có còn đúng nghĩa không: nếu được thì 未必 dùng đúng.

Trong bài: Giáo dục và học suốt đời

何必 – cần gì phải, việc gì phải

何必 + động từ(+ 呢)?

何必 là câu hỏi tu từ, nghĩa là “không cần phải…”, dùng để khuyên hoặc phản bác nhẹ một việc làm thừa. Cuối câu thường có 呢. Đứng trước động từ, có thể đứng sau chủ ngữ hoặc đầu câu.

  • 网上就有免费课程,何必花那么多钱报班呢?

    Wǎngshàng jiù yǒu miǎnfèi kèchéng, hébì huā nàme duō qián bào bān ne?

    Trên mạng có sẵn khóa học miễn phí, cần gì tốn bao nhiêu tiền đăng ký lớp?

  • 你已经很努力了,何必对自己要求这么高呢?

    Nǐ yǐjīng hěn nǔlì le, hébì duì zìjǐ yāoqiú zhème gāo ne?

    Bạn đã rất cố gắng rồi, việc gì phải đòi hỏi bản thân cao như thế?

  • 一次没考好而已,何必放弃呢?

    Yī cì méi kǎohǎo éryǐ, hébì fàngqì ne?

    Chỉ thi không tốt một lần thôi, cần gì phải bỏ cuộc?

So với tiếng Việt

Hán Việt “hà tất” – tiếng Việt cũng nói “hà tất phải…”, nghĩa y hệt. Sau 何必 không thêm 要 hay 不: Sai: 何必要不去呢. Đúng: 何必去呢?

Trong bài: Giáo dục và học suốt đời

所谓 – cái gọi là

所谓 + khái niệm,(就)是指… / 所谓的 + danh từ

所谓 có hai cách dùng. (1) Giải thích, định nghĩa một khái niệm: 所谓A,就是/是指B. (2) Đặt trước danh từ (thường có 的) để tỏ ý nghi ngờ, mỉa mai: “cái gọi là…”, ngụ ý không đúng như tên gọi. Cách (1) rất hay dùng trong văn nghị luận và thuyết trình.

  • 所谓名著,就是经过时间考验、一代代人都爱读的作品。

    Suǒwèi míngzhù, jiù shì jīngguò shíjiān kǎoyàn, yī dàidài rén dōu ài dú de zuòpǐn.

    Cái gọi là kiệt tác, chính là tác phẩm qua thử thách của thời gian, bao thế hệ đều thích đọc.

  • 所谓“灵感”,其实来自平时的积累。

    Suǒwèi “línggǎn”, qíshí láizì píngshí de jīlěi.

    Cái gọi là “cảm hứng”, thực ra đến từ sự tích lũy hằng ngày.

  • 那个所谓的大师,连一首诗都写不好。

    Nàge suǒwèi de dàshī, lián yī shǒu shī dōu xiě bù hǎo.

    Cái ông gọi là “bậc thầy” ấy, đến một bài thơ cũng viết không ra hồn.

So với tiếng Việt

Hán Việt “sở vị” ít dùng, nhưng tiếng Việt có đúng cấu trúc “cái gọi là…”. Chú ý giọng điệu: 所谓的 + danh từ chỉ người thường mang ý chê, nên tránh dùng khi khen ai đó.

Trong bài: Văn học và nghệ thuật

固然…但… – đành rằng…, nhưng…

A 固然 + nhận định 1,但(是)/ 可是 + nhận định 2

固然 thừa nhận một sự thật hoặc ưu điểm ở vế trước, rồi vế sau dùng 但/可是/也 để chuyển sang ý quan trọng hơn mà người nói muốn nhấn mạnh. Đây là cách đánh giá cân bằng, rất hợp khi nhận xét tác phẩm hoặc viết nghị luận. 固然 đứng sau chủ ngữ.

  • 这部电影的画面固然很美,但是情节太简单了。

    Zhè bù diànyǐng de huàmiàn gùrán hěn měi, dànshì qíngjié tài jiǎndān le.

    Hình ảnh bộ phim này đẹp thì đẹp thật, nhưng cốt truyện đơn giản quá.

  • 天赋固然重要,可是努力更重要。

    Tiānfù gùrán zhòngyào, kěshì nǔlì gèng zhòngyào.

    Năng khiếu đành là quan trọng, nhưng nỗ lực còn quan trọng hơn.

  • 改编固然可以有新意,但不能离原作太远。

    Gǎibiān gùrán kěyǐ yǒu xīnyì, dàn bù néng lí yuánzuò tài yuǎn.

    Chuyển thể đành rằng có thể sáng tạo, nhưng không được đi quá xa nguyên tác.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “tuy… nhưng…” thường được dịch 虽然…但是…, cũng đúng. Nhưng 固然 khác ở chỗ: người nói CÔNG NHẬN vế đầu là đúng rồi mới chuyển ý, nghe khách quan và “có học” hơn. Không đặt 固然 trước chủ ngữ: Sai: 固然画面很美.

Trong bài: Văn học và nghệ thuật

倒是 – thì lại, ngược lại (trái với dự đoán / nhượng bộ)

Chủ ngữ + 倒是 + nhận định(,就是 / 不过 + điểm chưa tốt)

倒是 có hai cách dùng chính. (1) Diễn tả điều trái với dự đoán: tưởng thế này, hóa ra lại thế kia. (2) Nhượng bộ: công nhận một mặt tốt rồi vế sau dùng 就是/不过/可是 nêu mặt chưa tốt. Đứng sau chủ ngữ, trước vị ngữ.

  • 这本书很薄,内容倒是挺丰富的。

    Zhè běn shū hěn báo, nèiróng dàoshì tǐng fēngfù de.

    Cuốn sách này mỏng, nội dung thì lại khá phong phú.

  • 他写的诗倒是不错,就是太长了。

    Tā xiě de shī dàoshì bùcuò, jiù shì tài cháng le.

    Thơ anh ấy viết thì cũng hay, chỉ là dài quá.

  • 我以为她会生气,她倒是笑了。

    Wǒ yǐwéi tā huì shēngqì, tā dàoshì xiào le.

    Tôi tưởng cô ấy sẽ giận, cô ấy lại cười.

So với tiếng Việt

倒是 gần với chữ “thì lại / thì cũng” trong tiếng Việt nói. Lỗi hay gặp: đặt 倒是 trước chủ ngữ (Sai: 倒是内容很丰富). Ngoài ra 倒 (dào) ở đây khác 倒 (dǎo) trong 摔倒 (ngã).

Trong bài: Văn học và nghệ thuật

以…而著称 / 以…而闻名 – nổi tiếng nhờ / vì…

Chủ ngữ + 以 + đặc điểm + 而著称 / 而闻名

Khung văn viết này nêu đặc điểm làm nên danh tiếng của một nơi, một người, một sản phẩm. 以 nghĩa là “bằng, nhờ”, 而 nối với động từ 著称/闻名 (nổi tiếng). Hay gặp trong bài giới thiệu du lịch, lịch sử, báo chí.

  • 会安以古老的街道和灯笼而著称。

    Huì'ān yǐ gǔlǎo de jiēdào hé dēnglong ér zhùchēng.

    Hội An nổi tiếng với những con phố cổ và đèn lồng.

  • 这所学校以严格的管理而闻名。

    Zhè suǒ xuéxiào yǐ yángé de guǎnlǐ ér wénmíng.

    Ngôi trường này nổi tiếng vì quản lý nghiêm khắc.

  • 李白以浪漫的诗风而著称。

    Lǐ Bái yǐ làngmàn de shīfēng ér zhùchēng.

    Lý Bạch nổi tiếng với phong cách thơ lãng mạn.

So với tiếng Việt

Người Việt hay viết 会安很有名因为灯笼, nghe rất “Việt”. Bài viết HSK 5 nên dùng 以…而著称. Lưu ý: không thể bỏ 而, và sau 著称 không cần thêm tân ngữ.

Trong bài: Lịch sử giao lưu Việt – Trung

就…而言 – xét về…, đối với…

就 + phương diện / đối tượng + 而言,nhận định

就…而言 giới hạn phạm vi nhận xét: “xét riêng về mặt…”. Thường đứng đầu câu, ngăn cách bằng dấu phẩy. Gần nghĩa với 对…来说 nhưng trang trọng hơn, hợp văn viết và phát biểu.

  • 就文字而言,越南古代深受汉字影响。

    Jiù wénzì ér yán, Yuènán gǔdài shēn shòu Hànzì yǐngxiǎng.

    Xét về chữ viết, Việt Nam thời xưa chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Hán.

  • 就我个人而言,我更喜欢安静的古城。

    Jiù wǒ gèrén ér yán, wǒ gèng xǐhuan ānjìng de gǔchéng.

    Riêng về cá nhân tôi, tôi thích những phố cổ yên tĩnh hơn.

  • 就贸易而言,中国是越南最大的合作伙伴之一。

    Jiù màoyì ér yán, Zhōngguó shì Yuènán zuì dà de hézuò huǒbàn zhī yī.

    Xét về thương mại, Trung Quốc là một trong những đối tác lớn nhất của Việt Nam.

So với tiếng Việt

Người học hay viết thiếu 而言 (Sai: 就文字,…) hoặc lẫn với 就 (thì) trong 一…就. Hãy coi 就…而言 là một cặp không tách rời, giống “xét về… mà nói” trong tiếng Việt.

Trong bài: Lịch sử giao lưu Việt – Trung

在…看来 – theo cách nhìn của…

在 + người + 看来,quan điểm

在…看来 giới thiệu quan điểm của một người hoặc một nhóm người. Khác 对…来说 (nói về ảnh hưởng, tác động đến ai), 在…看来 chỉ nói về suy nghĩ, đánh giá. Đứng đầu câu.

  • 在很多学者看来,喃字是越南文化的宝贵遗产。

    Zài hěn duō xuézhě kànlái, nánzì shì Yuènán wénhuà de bǎoguì yíchǎn.

    Theo nhiều học giả, chữ Nôm là di sản quý giá của văn hóa Việt Nam.

  • 在我看来,学中文就是在学越南的历史。

    Zài wǒ kànlái, xué Zhōngwén jiù shì zài xué Yuènán de lìshǐ.

    Theo tôi, học tiếng Trung cũng là đang học lịch sử Việt Nam.

  • 在外国游客看来,越南和中国的春节很像。

    Zài wàiguó yóukè kànlái, Yuènán hé Zhōngguó de Chūnjié hěn xiàng.

    Trong mắt khách nước ngoài, Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc rất giống nhau.

So với tiếng Việt

Lỗi kinh điển: 对我来说,这个观点是对的 (dùng 对…来说 để nêu ý kiến). Khi nêu QUAN ĐIỂM, dùng 在我看来 hoặc 我认为; còn 对我来说 dùng cho tác động: 对我来说,这个考试很重要 (với tôi kỳ thi này quan trọng).

Trong bài: Lịch sử giao lưu Việt – Trung

偏偏 – lại cứ, ấy thế mà (trái với mong muốn)

Chủ ngữ + 偏偏 + động từ / tình huống trái ý

偏偏 diễn tả sự việc xảy ra trái ngược với mong muốn hoặc lẽ thường, thường kèm sự bực bội, tiếc nuối: “sao lại đúng lúc này…”. Cũng có thể diễn tả sự cố tình làm ngược ý người khác (他偏偏不听). 偏偏 có thể đứng trước hoặc sau chủ ngữ.

  • 我急着去面试,偏偏又堵车了。

    Wǒ jízhe qù miànshì, piānpiān yòu dǔchē le.

    Tôi đang vội đi phỏng vấn, thế mà lại tắc đường.

  • 大家都劝他休息,他偏偏不听。

    Dàjiā dōu quàn tā xiūxi, tā piānpiān bù tīng.

    Mọi người đều khuyên anh ấy nghỉ, anh ấy lại cứ không nghe.

  • 心情不好的时候,偏偏什么事都不顺。

    Xīnqíng bù hǎo de shíhou, piānpiān shénme shì dōu bù shùn.

    Lúc tâm trạng không tốt, lại cứ việc gì cũng không suôn sẻ.

So với tiếng Việt

偏偏 gần với “đúng lúc… thì lại…”, “cứ khăng khăng”. Người Việt hay dùng 但是 cho mọi sự trái ý, nhưng 但是 không có sắc thái bực bội, tiếc nuối như 偏偏.

Trong bài: Tâm lý và cảm xúc

明明 – rõ ràng là… (mà lại…)

Chủ ngữ + 明明 + sự thật A,却 / 可 / 还 / 为什么 + B (trái với A)

明明 nhấn mạnh một sự thật hiển nhiên, vế sau nêu điều trái ngược với sự thật đó, thường kèm thái độ bực bội, trách móc hoặc khó hiểu. Vế sau hay có 却、可、还、怎么、为什么. 明明 đứng sau chủ ngữ, trước vị ngữ.

  • 这件事明明不是我做的,他却怪我。

    Zhè jiàn shì míngmíng bù shì wǒ zuò de, tā què guài wǒ.

    Việc này rõ ràng không phải tôi làm, vậy mà anh ta lại trách tôi.

  • 你明明很累,为什么还说没事?

    Nǐ míngmíng hěn lèi, wèi shénme hái shuō méishì?

    Cậu rõ ràng là rất mệt, sao còn bảo không sao?

  • 她明明很难过,却忍着不哭。

    Tā míngmíng hěn nánguò, què rěnzhe bù kū.

    Cô ấy rõ ràng rất buồn, vậy mà cố nén không khóc.

So với tiếng Việt

明明 giống “rõ ràng là… mà…” trong tiếng Việt. Người Việt hay nói nửa câu 他明明知道 rồi dừng, nghe cụt: 明明 cần một vế trái ngược đi sau (却 / 可 / 还 / 为什么…). Đừng nhầm 明明 với 明白 (hiểu).

Trong bài: Tâm lý và cảm xúc

难以 – khó mà, khó có thể

难以 + động từ hai âm tiết (忍受, 入睡, 接受, 表达…)

难以 là cách nói văn viết của 很难, nghĩa “khó mà…”. Sau 难以 thường là động từ hai âm tiết; không thêm 很 trước 难以 và không thêm 得 sau nó. Hay gặp khi miêu tả cảm xúc, trạng thái mạnh: 难以忍受 (khó chịu nổi), 难以入睡 (khó ngủ), 难以接受 (khó chấp nhận).

  • 失恋以后,他每天晚上都难以入睡。

    Shīliàn yǐhòu, tā měi tiān wǎnshang dōu nányǐ rùshuì.

    Sau khi thất tình, tối nào anh ấy cũng khó ngủ.

  • 这种压力让人难以忍受。

    Zhè zhǒng yālì ràng rén nányǐ rěnshòu.

    Áp lực như thế khiến người ta khó mà chịu nổi.

  • 听到这个好消息,她的心情难以用语言表达。

    Tīngdào zhège hǎo xiāoxi, tā de xīnqíng nányǐ yòng yǔyán biǎodá.

    Nghe tin vui này, tâm trạng cô ấy khó diễn tả bằng lời.

So với tiếng Việt

Dịch “khó mà” bằng 很难 cũng đúng nhưng nghe như văn nói; bài viết dùng 难以 trang trọng hơn. Ba lỗi hay gặp: thêm 很 (Sai: 很难以忍受), thêm 得 (Sai: 难以得入睡) và đặt 难以 cuối câu (Sai: 这种压力忍受难以). Muốn nhấn mạnh thì dùng 实在难以 / 让人难以….

Trong bài: Tâm lý và cảm xúc

非…不可 – nhất định phải, không… không được

Chủ ngữ + 非 + động từ / danh từ + 不可

非…不可 là phủ định kép, khẳng định mạnh: “nhất định phải…”. Có ba sắc thái: quyết tâm (我非去不可), sự cần thiết (这个问题非解决不可), hoặc dự đoán chắc chắn (不带伞非淋湿不可). Trong khẩu ngữ đôi khi lược 不可, nhưng văn viết nên giữ đủ.

  • 这件事我非找他们经理不可。

    Zhè jiàn shì wǒ fēi zhǎo tāmen jīnglǐ bùkě.

    Việc này tôi nhất định phải gặp giám đốc của họ.

  • 要想解决问题,非有证据不可。

    Yào xiǎng jiějué wèntí, fēi yǒu zhèngjù bùkě.

    Muốn giải quyết vấn đề, nhất định phải có bằng chứng.

  • 你再不看合同就签字,非吃亏不可。

    Nǐ zài bù kàn hétong jiù qiānzì, fēi chīkuī bùkě.

    Cậu còn không đọc hợp đồng đã ký thì kiểu gì cũng thiệt.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt có “không… không được” và “phi… bất khả” (Hán Việt) cùng nghĩa. Lỗi hay gặp: viết 非要…不可 lẫn với 不可不…; hoặc quên 不可 ở cuối. Ghi nhớ: 非 + việc cần làm + 不可.

Trong bài: Pháp luật và quyền lợi người tiêu dùng

不得不 – đành phải, buộc phải

Chủ ngữ + 不得不 + động từ

不得不 (không thể không) nói việc người nói không muốn làm nhưng vì hoàn cảnh ép buộc phải làm. Khác 必须 (phải, nhấn vào nghĩa vụ) và 只好 (đành, khi không còn cách nào khác), 不得不 nhấn vào sự bị ép buộc, miễn cưỡng.

  • 商家一直不肯退货,我不得不去投诉。

    Shāngjiā yīzhí bù kěn tuìhuò, wǒ bùdébù qù tóusù.

    Người bán mãi không chịu nhận lại hàng, tôi buộc phải đi khiếu nại.

  • 因为下大雨,比赛不得不推迟。

    Yīnwèi xià dàyǔ, bǐsài bùdébù tuīchí.

    Vì mưa lớn, trận đấu buộc phải hoãn.

  • 产品出了问题,公司不得不公开道歉。

    Chǎnpǐn chūle wèntí, gōngsī bùdébù gōngkāi dàoqiàn.

    Sản phẩm có vấn đề, công ty đành phải công khai xin lỗi.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm 不得不 (buộc phải làm) với 不得 (không được phép: 不得吸烟 – cấm hút thuốc). Về phát âm: 不 chỉ biến thành thanh 2 khi đứng trước thanh 4; trong 不得不 (bùdébù), chữ 不 đầu đứng trước 得 (thanh 2) nên giữ nguyên thanh 4.

Trong bài: Pháp luật và quyền lợi người tiêu dùng

凡是…都… – hễ là…, phàm là… đều…

凡是 + danh từ / cụm danh từ,都 + vị ngữ

凡是 nêu toàn bộ phạm vi không ngoại lệ, vế sau có 都 khẳng định quy tắc áp dụng cho tất cả. Hay gặp trong quy định, thông báo, văn bản pháp luật. 凡是 đứng đầu câu, trước chủ ngữ.

  • 凡是在本店购买的商品,都可以保修一年。

    Fánshì zài běn diàn gòumǎi de shāngpǐn, dōu kěyǐ bǎoxiū yī nián.

    Phàm là hàng mua tại cửa hàng này đều được bảo hành một năm.

  • 凡是违法的行为,都会受到处罚。

    Fánshì wéifǎ de xíngwéi, dōu huì shòudào chǔfá.

    Hễ là hành vi phạm pháp đều sẽ bị xử phạt.

  • 凡是跟钱有关的事,他都很小心。

    Fánshì gēn qián yǒuguān de shì, tā dōu hěn xiǎoxīn.

    Hễ việc gì dính đến tiền, anh ấy đều rất cẩn thận.

So với tiếng Việt

Người Việt hay bỏ 都 vì tiếng Việt “phàm là… đều…” đôi khi rút gọn. Trong tiếng Trung, 凡是 gần như bắt buộc đi với 都 ở vế sau, và 都 đứng sau chủ ngữ (他都很小心).

Trong bài: Pháp luật và quyền lợi người tiêu dùng

将 / 即将 – sẽ, sắp (văn viết)

Chủ ngữ + 将 / 即将 + động từ

将 là phó từ văn viết, nghĩa như 会 / 要 (“sẽ”), rất hay gặp trong tin tức, thông báo, báo cáo khoa học. 即将 là “sắp sửa”, chỉ việc sẽ xảy ra trong thời gian rất gần. Cả hai chỉ dùng cho việc chưa xảy ra.

  • 这颗卫星将在明年发射。

    Zhè kē wèixīng jiāng zài míngnián fāshè.

    Vệ tinh này sẽ được phóng vào năm sau.

  • 人工智能将改变很多行业。

    Réngōng zhìnéng jiāng gǎibiàn hěn duō hángyè.

    Trí tuệ nhân tạo sẽ làm thay đổi nhiều ngành nghề.

  • 新款手机即将上市。

    Xīnkuǎn shǒujī jíjiāng shàngshì.

    Mẫu điện thoại mới sắp ra mắt.

So với tiếng Việt

Nói chuyện hằng ngày dùng 会 / 要 là đủ; 将 nghe như đọc bản tin. Lỗi hay gặp: dùng 将 cho việc đã xảy ra (Sai: 昨天卫星将发射). Phân biệt 将 jiāng (sẽ) với 将 jiàng trong 将军 (tướng quân).

Trong bài: Khoa học và phát minh

得以 – nhờ đó mà được, mới có thể

(Nhờ điều kiện A),Chủ ngữ + 得以 + động từ

得以 (đắc dĩ) cho biết nhờ có điều kiện, sự giúp đỡ ở phía trước mà việc phía sau mới thực hiện được. Là từ văn viết, đứng sau chủ ngữ, trước động từ (thường hai âm tiết). Câu thường có vế nêu điều kiện: 有了…, 通过…, 在…的帮助下.

  • 有了政府的资助,这个研究项目才得以完成。

    Yǒule zhèngfǔ de zīzhù, zhège yánjiū xiàngmù cái déyǐ wánchéng.

    Nhờ có tài trợ của chính phủ, dự án nghiên cứu này mới hoàn thành được.

  • 通过大量实验,他的设想得以证实。

    Tōngguò dàliàng shíyàn, tā de shèxiǎng déyǐ zhèngshí.

    Qua rất nhiều thí nghiệm, ý tưởng của anh ấy đã được chứng thực.

  • 因为有了印刷技术,知识得以广泛传播。

    Yīnwèi yǒule yìnshuā jìshù, zhīshi déyǐ guǎngfàn chuánbō.

    Nhờ có kỹ thuật in, tri thức mới được truyền bá rộng rãi.

So với tiếng Việt

得以 hay bị nhầm với 可以. 可以 chỉ khả năng hoặc sự cho phép nói chung; 得以 nhấn mạnh “nhờ có… nên mới làm được”, nên phía trước phải có điều kiện. Đừng nhầm với 不得已 (bất đắc dĩ – đành phải).

Trong bài: Khoa học và phát minh

总算 – cuối cùng cũng, rốt cuộc cũng

(Sau quá trình dài / khó khăn),Chủ ngữ + 总算 + động từ(+ 了)

总算 nói một việc mong đợi đã lâu cuối cùng cũng thành, kèm cảm giác nhẹ nhõm. Gần nghĩa 终于 nhưng giàu cảm xúc hơn. 总算 còn nghĩa “nhìn chung cũng tạm được” (总算还可以). Đứng sau chủ ngữ, trước động từ.

  • 失败了几十次,实验总算成功了。

    Shībàile jǐ shí cì, shíyàn zǒngsuàn chénggōng le.

    Thất bại mấy chục lần, thí nghiệm cuối cùng cũng thành công.

  • 系统修了三天,总算能正常运行了。

    Xìtǒng xiūle sān tiān, zǒngsuàn néng zhèngcháng yùnxíng le.

    Hệ thống sửa ba ngày, rốt cuộc cũng chạy bình thường được.

  • 这次的结果虽然不完美,但总算还可以。

    Zhè cì de jiéguǒ suīrán bù wánměi, dàn zǒngsuàn hái kěyǐ.

    Kết quả lần này tuy chưa hoàn hảo nhưng nhìn chung cũng tạm được.

So với tiếng Việt

终于 trung tính, 总算 thêm cảm xúc “thở phào”. Người Việt hay đặt 总算 trước chủ ngữ theo kiểu “Cuối cùng thì, tôi…”. Sai: 总算我做完了. Đúng: 我总算做完了。

Trong bài: Khoa học và phát minh

不是…就是… – không… thì…

不是 A,就是 B

Khung này nêu hai khả năng và khẳng định chắc chắn là một trong hai, không có khả năng thứ ba. Thường dùng để miêu tả tình trạng lặp đi lặp lại hoặc than phiền (không mưa thì sương mù…). Khác 不是 A,而是 B (phủ định A, khẳng định B).

  • 雨季去沙坝,不是下雨就是起雾。

    Yǔjì qù Shābà, bù shì xià yǔ jiù shì qǐ wù.

    Đi Sa Pa mùa mưa, không mưa thì sương mù.

  • 他每个周末不是去爬山,就是去海边。

    Tā měi gè zhōumò bù shì qù pá shān, jiù shì qù hǎibiān.

    Cuối tuần nào anh ấy cũng không đi leo núi thì ra biển.

  • 老街上的店不是卖纪念品的,就是卖咖啡的。

    Lǎojiē shang de diàn bù shì mài jìniànpǐn de, jiù shì mài kāfēi de.

    Cửa hàng trên phố cổ không bán đồ lưu niệm thì bán cà phê.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm với 不是…而是… (HSK 4): 他不是导游,而是老师 = anh ấy không phải hướng dẫn viên mà là giáo viên (chỉ có một khả năng). 不是…就是… = một trong hai, khả năng nào cũng có thể. Tiếng Việt tương ứng: “không… thì…”.

Trong bài: Du lịch văn hóa

难得 – hiếm có; hiếm khi

难得 + động từ (hiếm khi được…);难得的 + danh từ / …很难得 (hiếm có, đáng quý)

难得 có hai cách dùng. (1) Tính từ: quý vì hiếm có (难得的机会, 这样的好天气真难得). (2) Phó từ trước động từ: hiếm khi, ít khi có dịp (我们难得见一次面). Thường mang sắc thái trân trọng, vui mừng vì một dịp, một cảnh, một trải nghiệm hiếm hoi.

  • 工作太忙,我们一家人难得一起出去旅游。

    Gōngzuò tài máng, wǒmen yī jiā rén nándé yīqǐ chūqu lǚyóu.

    Công việc bận quá, cả nhà tôi hiếm khi được cùng nhau đi du lịch.

  • 能在古镇住上一晚,这个机会很难得。

    Néng zài gǔzhèn zhù shang yī wǎn, zhège jīhuì hěn nándé.

    Được ở lại thị trấn cổ một đêm, cơ hội này thật hiếm có.

  • 九月的梯田这么美,真是难得的景象。

    Jiǔyuè de tītián zhème měi, zhēn shì nándé de jǐngxiàng.

    Ruộng bậc thang tháng Chín đẹp thế này, đúng là cảnh tượng hiếm có.

So với tiếng Việt

Hán Việt “nan đắc” = khó có được. Đừng nhầm 难得 (hiếm khi, đáng quý) với 很难 (khó làm): 难得见面 là “hiếm khi gặp”, còn 很难见面 là “khó mà gặp được”.

Trong bài: Du lịch văn hóa

再也不 / 再也没 – không bao giờ… nữa

Chủ ngữ + 再也不 + động từ(+ 了);Chủ ngữ + 再也没(有)+ động từ(+ 过)

再也 đi với phủ định để nói một việc sẽ không bao giờ xảy ra nữa, hoặc từ một thời điểm nào đó đã không xảy ra nữa. 再也不 dùng cho ý muốn, quyết tâm, tương lai; 再也没(有) dùng cho sự thật đã diễn ra. Ngữ khí mạnh hơn 不再.

  • 那次在山里迷了路,我再也不敢一个人爬山了。

    Nà cì zài shān lǐ míle lù, wǒ zài yě bù gǎn yī gè rén pá shān le.

    Lần ấy bị lạc trong núi, tôi không bao giờ dám leo núi một mình nữa.

  • 自从搬到城里,他再也没回过老家。

    Zìcóng bāndào chéng lǐ, tā zài yě méi huíguo lǎojiā.

    Từ khi chuyển lên thành phố, anh ấy không về quê thêm lần nào nữa.

  • 吃过会安的高楼面,我再也忘不了那个味道。

    Chīguo Huì'ān de gāolóumiàn, wǒ zài yě wàng bu liǎo nàge wèidao.

    Ăn cao lầu Hội An rồi, tôi không bao giờ quên được hương vị ấy.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng lẫn 不 và 没. Nhớ: chuyện đã xảy ra → 再也没…过; ý muốn, tương lai → 再也不…了. Sai: 他再也不回来过. 再也 đứng sau chủ ngữ, ngay trước 不 / 没.

Trong bài: Du lịch văn hóa

接连 / 一连 – liên tiếp, liền một mạch

Chủ ngữ + 接连 + động từ(+ số lượng);Chủ ngữ + 一连 + số lượng / động từ + số lượng

接连 nghĩa là liên tiếp, việc này nối việc kia không ngắt quãng: 接连赢了三场. 一连 cũng là “liền một mạch”, nhưng câu bắt buộc có số lượng (一连三天, 一连下了一个星期的雨). Cả hai đứng sau chủ ngữ, trước động từ, dùng để nhấn mạnh sự việc lặp lại nhiều lần.

  • 越南队接连赢了三场比赛。

    Yuènán duì jiēlián yíngle sān chǎng bǐsài.

    Đội Việt Nam thắng liên tiếp ba trận.

  • 她一连训练了五个小时,一点儿也没休息。

    Tā yīlián xùnliànle wǔ gè xiǎoshí, yīdiǎnr yě méi xiūxi.

    Cô ấy tập liền một mạch năm tiếng, không nghỉ chút nào.

  • 比赛一开始,对手就接连进了两个球。

    Bǐsài yī kāishǐ, duìshǒu jiù jiēlián jìnle liǎng gè qiú.

    Trận đấu vừa bắt đầu, đối thủ đã liên tiếp ghi hai bàn.

So với tiếng Việt

Dịch “liên tiếp” bằng 连续 cũng đúng. Chú ý: câu có 一连 phải có số lượng (Sai: 他一连赢了比赛 → Đúng: 他一连赢了三场比赛). 接连 / 一连 không đứng sau động từ.

Trong bài: Thể thao và tinh thần

再…也… – dù… đến mấy cũng…

(Chủ ngữ)+ 再 + tính từ / động từ,也 + kết quả không đổi

再 ở đây không có nghĩa “lại”, mà là “dù… đến mức nào”; vế sau 也 khẳng định kết quả không thay đổi. Là cách nói ngắn gọn của 不管多…也…/即使很…也…. Thường gặp trong khẩu ngữ và văn viết nhẹ.

  • 训练再苦,他也从来不抱怨。

    Xùnliàn zài kǔ, tā yě cónglái bù bàoyuàn.

    Tập luyện cực đến mấy, anh ấy cũng chưa bao giờ than phiền.

  • 对手再强,我们也要全力以赴。

    Duìshǒu zài qiáng, wǒmen yě yào quánlì-yǐfù.

    Đối thủ mạnh đến mấy, chúng ta cũng phải dốc toàn lực.

  • 天气再热,球迷们也要去现场看球。

    Tiānqì zài rè, qiúmímen yě yào qù xiànchǎng kàn qiú.

    Trời nóng đến mấy, người hâm mộ cũng muốn đến sân xem bóng.

So với tiếng Việt

Người Việt dịch máy móc 再 là “lại” nên hiểu sai câu. Dấu hiệu nhận biết: 再 + tính từ + vế sau có 也 → “dù… đến mấy”.

Trong bài: Thể thao và tinh thần

以至于 / 以致 – đến nỗi, đến mức

A(mức độ cao / nguyên nhân),以至于 + B(kết quả do mức độ đó gây ra)

以至于 nối vế sau nêu kết quả xảy ra vì vế trước đạt đến mức độ cao. 以致 cũng có nghĩa này nhưng thường dùng khi kết quả là xấu, không mong muốn. Đứng đầu vế sau, văn viết.

  • 比赛太精彩了,以至于观众忘了时间。

    Bǐsài tài jīngcǎi le, yǐzhìyú guānzhòng wàngle shíjiān.

    Trận đấu hay đến nỗi khán giả quên cả thời gian.

  • 他训练得太拼,以至于膝盖受了伤。

    Tā xùnliàn de tài pīn, yǐzhìyú xīgài shòule shāng.

    Anh ấy tập quá sức, đến nỗi bị chấn thương đầu gối.

  • 队员之间缺少沟通,以致在关键时刻出现了失误。

    Duìyuán zhījiān quēshǎo gōutōng, yǐzhì zài guānjiàn shíkè chūxiànle shīwù.

    Cầu thủ thiếu trao đổi với nhau, đến nỗi mắc sai lầm vào thời khắc quyết định.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “đến nỗi” dùng được cả nghĩa tốt lẫn xấu, giống 以至于. Nếu kết quả rõ ràng là xấu, dùng 以致 nghe chuẩn văn viết hơn. Đừng nhầm với 以便 (để mà – mục đích).

Trong bài: Thể thao và tinh thần

由 – do (ai) làm, do (ai) phụ trách

Việc + 由 + người / bộ phận + động từ (负责, 决定, 安排…)

由 giới thiệu người hoặc bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện một việc, rất hay gặp trong văn bản công việc, thông báo phân công. Việc được nói đến đứng đầu câu; sau 由 là người làm, rồi đến động từ. Khác 被 (nhấn mạnh chịu tác động), 由 nhấn mạnh trách nhiệm thuộc về ai.

  • 这个项目由王经理负责。

    Zhège xiàngmù yóu Wáng jīnglǐ fùzé.

    Dự án này do giám đốc Vương phụ trách.

  • 新员工的培训由人事部安排。

    Xīn yuángōng de péixùn yóu rénshìbù ānpái.

    Việc đào tạo nhân viên mới do phòng nhân sự sắp xếp.

  • 最后的结果由总裁决定。

    Zuìhòu de jiéguǒ yóu zǒngcái juédìng.

    Kết quả cuối cùng do tổng giám đốc quyết định.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “do… phụ trách” khớp với 由…负责. Lỗi hay gặp: dùng 被 thay 由 (Sai: 这个项目被王经理负责) – 被 dùng khi đối tượng chịu tác động. Đừng nhầm 由 với 由于 (do, bởi vì – chỉ nguyên nhân).

Trong bài: Nhân sự và quản lý

一方面…另一方面… – một mặt…, mặt khác…

一方面 + A,另一方面 + B

Khung này trình bày hai mặt, hai lý do hoặc hai biện pháp song song của cùng một vấn đề. Vế sau có thể thêm 也 / 还 sau chủ ngữ. Dùng nhiều trong báo cáo, thuyết trình, văn nghị luận để lập luận cân đối.

  • 我们一方面要提高待遇,另一方面也要给员工更多发展机会。

    Wǒmen yī fāngmiàn yào tígāo dàiyù, lìng yī fāngmiàn yě yào gěi yuángōng gèng duō fāzhǎn jīhuì.

    Một mặt chúng ta phải nâng đãi ngộ, mặt khác cũng phải cho nhân viên nhiều cơ hội phát triển hơn.

  • 他跳槽一方面是为了薪水,另一方面是想换个环境。

    Tā tiàocáo yī fāngmiàn shì wèile xīnshui, lìng yī fāngmiàn shì xiǎng huàn gè huánjìng.

    Anh ấy nhảy việc một phần vì lương, một phần là muốn đổi môi trường.

  • 远程办公一方面节省了时间,另一方面也增加了沟通的难度。

    Yuǎnchéng bàngōng yī fāngmiàn jiéshěngle shíjiān, lìng yī fāngmiàn yě zēngjiāle gōutōng de nándù.

    Làm việc từ xa một mặt tiết kiệm thời gian, mặt khác cũng làm việc trao đổi khó hơn.

So với tiếng Việt

Đừng viết 一方面…一方面… cho mọi trường hợp; văn viết chuẩn dùng 一方面…另一方面…. Hai vế nên cân đối về cấu trúc (động từ + tân ngữ đối với động từ + tân ngữ) để câu đẹp.

Trong bài: Nhân sự và quản lý

务必 – nhất thiết phải, nhớ phải (văn bản công việc)

请 + chủ ngữ + 务必 + động từ

务必 nghĩa là “nhất thiết phải”, dùng trong yêu cầu, thông báo, email công việc để nhấn mạnh việc bắt buộc làm, giọng trang trọng mà vẫn lịch sự (thường đi với 请). Mạnh hơn 一定 và trang trọng hơn 千万.

  • 请各部门务必在周五前提交报告。

    Qǐng gè bùmén wùbì zài zhōuwǔ qián tíjiāo bàogào.

    Đề nghị các phòng ban nhất thiết nộp báo cáo trước thứ Sáu.

  • 这份合同很重要,请您务必仔细核对。

    Zhè fèn hétong hěn zhòngyào, qǐng nín wùbì zǐxì héduì.

    Hợp đồng này rất quan trọng, kính mong anh/chị kiểm tra kỹ.

  • 明天的会议请大家务必准时参加。

    Míngtiān de huìyì qǐng dàjiā wùbì zhǔnshí cānjiā.

    Cuộc họp ngày mai đề nghị mọi người nhất thiết có mặt đúng giờ.

So với tiếng Việt

Khi viết email cho cấp trên hoặc đối tác, 请务必… lịch sự hơn 你必须… (nghe như ra lệnh). Lưu ý 务 đọc wù, 必 đọc bì; đừng nhầm 务必 với 未必 (wèibì – chưa chắc), nghĩa gần như ngược nhau!

Trong bài: Nhân sự và quản lý

HSK 6Trung cấp 3

鉴于 – xét thấy, căn cứ vào

鉴于 + tình hình / lý do,(chủ ngữ) + quyết định / biện pháp

鉴于 đặt ở đầu câu, nêu một tình hình đã biết làm căn cứ, vế sau là quyết định hay biện pháp được đưa ra. Đây là từ văn viết, rất hay gặp trong thông báo, công văn, báo cáo. Vế sau thường có các động từ như 决定、建议、要求、取消.

  • 鉴于原材料价格持续上涨,公司决定调整产品价格。

    Jiànyú yuáncáiliào jiàgé chíxù shàngzhǎng, gōngsī juédìng tiáozhěng chǎnpǐn jiàgé.

    Xét thấy giá nguyên liệu tăng liên tục, công ty quyết định điều chỉnh giá sản phẩm.

  • 鉴于目前的情况,会议推迟到下周举行。

    Jiànyú mùqián de qíngkuàng, huìyì tuīchí dào xiàzhōu jǔxíng.

    Căn cứ tình hình hiện tại, cuộc họp hoãn sang tuần sau.

  • 鉴于他多年的贡献,董事会决定给予表彰。

    Jiànyú tā duō nián de gòngxiàn, dǒngshìhuì juédìng jǐyǔ biǎozhāng.

    Xét những cống hiến nhiều năm của anh ấy, hội đồng quản trị quyết định khen thưởng.

So với tiếng Việt

鉴于 ≈ “xét thấy”. Khác 由于 (do, vì): 由于 nêu nguyên nhân của một kết quả bất kỳ, còn 鉴于 dẫn ra căn cứ để ra quyết định. Không nói “鉴于下雨,路很滑” (đường trơn là kết quả tự nhiên) mà nói “由于下雨,路很滑”.

Trong bài: Toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng

致使 – khiến cho, dẫn đến (kết quả xấu)

Nguyên nhân,致使 + kết quả (thường tiêu cực)

致使 nối nguyên nhân với kết quả, thường là kết quả không mong muốn: thiệt hại, chậm trễ, đình trệ. Văn viết, hay gặp trong báo cáo sự cố và tin tức. Có thể dùng cùng 由于 ở vế trước.

  • 港口停工三天,致使大批货物无法按时交付。

    Gǎngkǒu tínggōng sān tiān, zhìshǐ dàpī huòwù wúfǎ ànshí jiāofù.

    Cảng ngừng hoạt động ba ngày khiến một lượng lớn hàng không giao đúng hạn.

  • 芯片短缺致使多家汽车厂减产。

    Xīnpiàn duǎnquē zhìshǐ duō jiā qìchēchǎng jiǎnchǎn.

    Thiếu chip khiến nhiều nhà máy ô tô phải giảm sản lượng.

  • 由于管理混乱,致使公司损失严重。

    Yóuyú guǎnlǐ hùnluàn, zhìshǐ gōngsī sǔnshī yánzhòng.

    Do quản lý lộn xộn, công ty bị tổn thất nặng nề.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dịch mọi chữ “khiến cho” thành 致使, kể cả kết quả tốt: “新政策致使收入增加” nghe rất lạ. Kết quả tốt hoặc trung tính dùng 使、让、促使.

Trong bài: Toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng

乃至 – thậm chí cả, cho đến

A(、B)乃至 C (C là phạm vi / mức độ lớn nhất)

乃至 đứng trước thành phần cuối cùng trong chuỗi liệt kê, cho thấy phạm vi mở rộng dần tới mức cao nhất. Có thể nối danh từ (亚洲乃至全世界) hoặc cụm động từ. Giọng văn trang trọng.

  • 这场危机影响了亚洲乃至全世界的经济。

    Zhè chǎng wēijī yǐngxiǎng le Yàzhōu nǎizhì quán shìjiè de jīngjì.

    Cuộc khủng hoảng này ảnh hưởng tới kinh tế châu Á, thậm chí cả thế giới.

  • 零件短缺可能拖慢整条生产线,乃至整个行业。

    Língjiàn duǎnquē kěnéng tuōmàn zhěng tiáo shēngchǎnxiàn, nǎizhì zhěnggè hángyè.

    Thiếu linh kiện có thể làm chậm cả dây chuyền, thậm chí cả ngành.

  • 这项技术在国内乃至国际上都处于领先地位。

    Zhè xiàng jìshù zài guónèi nǎizhì guójì shàng dōu chǔyú lǐngxiān dìwèi.

    Công nghệ này dẫn đầu trong nước, thậm chí cả quốc tế.

So với tiếng Việt

“Thậm chí” tiếng Việt đứng được đầu câu, nhưng 乃至 thì không: phải đặt giữa các thành phần được liệt kê. Thứ tự phải từ nhỏ đến lớn; nói “全世界乃至全国” là ngược.

Trong bài: Toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng

为此 – vì việc này (mà…), để làm được việc đó

Câu nêu tình hình / mục tiêu。为此,(chủ ngữ) + biện pháp có chủ ý

为此 = 为了这个 / 因为这个: chỉ lại sự việc vừa nói ở câu trước, rồi nêu hành động có chủ ý được đưa ra vì sự việc đó. Thường đứng đầu câu hoặc vế sau, cũng có thể đứng sau chủ ngữ (我们为此…). Văn viết, rất hay gặp trong thông báo, thư công việc, báo cáo.

  • 下个月海运费用可能继续上涨。为此,我们决定提前发货。

    Xià gè yuè hǎiyùn fèiyòng kěnéng jìxù shàngzhǎng. Wèicǐ, wǒmen juédìng tíqián fāhuò.

    Tháng sau cước vận tải biển có thể tiếp tục tăng. Vì vậy, chúng tôi quyết định giao hàng sớm.

  • 公司希望打开欧洲市场,为此专门成立了海外部。

    Gōngsī xīwàng dǎkāi Ōuzhōu shìchǎng, wèicǐ zhuānmén chénglì le hǎiwàibù.

    Công ty muốn mở thị trường châu Âu, vì thế đã lập riêng phòng thị trường nước ngoài.

  • 这次延误给您带来了不便,我们为此深表歉意。

    Zhè cì yánwù gěi nín dàilái le bùbiàn, wǒmen wèicǐ shēn biǎo qiànyì.

    Lần chậm trễ này đã gây bất tiện cho quý vị, chúng tôi thành thật xin lỗi về việc đó.

So với tiếng Việt

为此 khác 因此: 因此 nêu kết quả tự nhiên (下雨了,因此路很滑), còn 为此 dẫn ra hành động có chủ ý để giải quyết việc vừa nói. Không nói “下雨了,为此路很滑”. Chữ 为 ở đây đọc wèi (thanh 4), không đọc wéi như trong 成为.

Trong bài: Toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng

基于 – dựa trên, trên cơ sở

基于 + căn cứ / dữ liệu / nguyên lý,… ; 是基于…的

基于 nêu nền tảng, căn cứ của một nhận định, quyết định hay sản phẩm. Có thể đứng đầu câu (基于以上原因,…) hoặc làm định ngữ (基于大数据的分析). Văn viết, rất phổ biến trong báo cáo, tài liệu kỹ thuật.

  • 基于大数据的分析,我们调整了营销策略。

    Jīyú dà shùjù de fēnxī, wǒmen tiáozhěng le yíngxiāo cèlüè.

    Dựa trên phân tích dữ liệu lớn, chúng tôi đã điều chỉnh chiến lược tiếp thị.

  • 这个系统是基于深度学习开发的。

    Zhège xìtǒng shì jīyú shēndù xuéxí kāifā de.

    Hệ thống này được phát triển dựa trên học sâu.

  • 基于以上原因,我们不同意这个方案。

    Jīyú yǐshàng yuányīn, wǒmen bù tóngyì zhège fāng'àn.

    Vì những lý do trên, chúng tôi không đồng ý phương án này.

So với tiếng Việt

So với 鉴于 (bài 1): 鉴于 = “xét thấy” một tình hình để ra quyết định; 基于 = “dựa trên” một nền tảng, dữ liệu, nguyên lý. Không dùng 基于 trước người: không nói “基于老师的话” khi muốn nói “theo lời thầy” (dùng 根据 hoặc 按照).

Trong bài: Trí tuệ nhân tạo và việc làm

势必 – tất yếu sẽ, ắt sẽ

Chủ ngữ + 势必 + (会/要) + V

势必 là phỏng đoán chắc chắn dựa trên xu thế, lô-gic của sự việc: “theo đà này thì nhất định sẽ…”. Vị ngữ thường là sự thay đổi hoặc hậu quả. Văn viết, dùng nhiều trong bình luận, dự báo.

  • 人工智能势必会改变很多行业的工作方式。

    Réngōng zhìnéng shìbì huì gǎibiàn hěn duō hángyè de gōngzuò fāngshì.

    AI tất yếu sẽ thay đổi cách làm việc của nhiều ngành.

  • 如果不加强监管,势必带来更大的风险。

    Rúguǒ bù jiāqiáng jiānguǎn, shìbì dàilái gèng dà de fēngxiǎn.

    Nếu không tăng cường quản lý, ắt sẽ gây ra rủi ro lớn hơn.

  • 成本上升势必影响产品的竞争力。

    Chéngběn shàngshēng shìbì yǐngxiǎng chǎnpǐn de jìngzhēnglì.

    Chi phí tăng ắt sẽ ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của sản phẩm.

So với tiếng Việt

Người Việt hay lẫn 势必 với 必须 vì cùng có “tất/phải”. 势必 là dự đoán (“chắc chắn sẽ xảy ra”), 必须 là yêu cầu (“bắt buộc phải làm”). Sai: “你势必早点来” → “你必须早点来”.

Trong bài: Trí tuệ nhân tạo và việc làm

不至于 – chưa đến mức, không đến nỗi

(Chủ ngữ) + 不至于 + V / Adj ; 至于吗?(khẩu ngữ)

不至于 phủ nhận việc sự việc đạt tới một mức độ (thường là mức tệ). Có thể đứng một mình làm câu trả lời: “不至于。” Dạng hỏi khẩu ngữ “至于吗?” nghĩa là “có cần đến mức đó không?”.

  • 机器人再聪明,也不至于让所有人都失业。

    Jīqìrén zài cōngming, yě bùzhìyú ràng suǒyǒu rén dōu shīyè.

    Robot dù thông minh đến đâu cũng không đến mức khiến tất cả mọi người thất nghiệp.

  • 他只是迟到了五分钟,不至于被开除吧?

    Tā zhǐshì chídào le wǔ fēnzhōng, bùzhìyú bèi kāichú ba?

    Anh ấy chỉ đến muộn năm phút, chắc không đến mức bị đuổi việc chứ?

  • 只要提前准备,考试不至于太难。

    Zhǐyào tíqián zhǔnbèi, kǎoshì bùzhìyú tài nán.

    Chỉ cần chuẩn bị trước, kỳ thi sẽ không đến nỗi quá khó.

So với tiếng Việt

Rất giống “chưa đến nỗi” trong tiếng Việt. Đừng nhầm với 以至于 (đến nỗi – kết quả đã xảy ra, đã học ở HSK 5) và với 至于 đứng đầu câu nghĩa là “còn về…” (至于价格,我们再谈).

Trong bài: Trí tuệ nhân tạo và việc làm

与其说…不如说… – nói là A chi bằng nói là B

与其说 A,不如说 B

Dùng để điều chỉnh một nhận định: cách gọi A chưa chính xác, B mới đúng bản chất. Vế B là quan điểm người nói khẳng định. Cấu trúc rất “đắt” trong bài nghị luận vì thể hiện tư duy phản biện.

  • 与其说人工智能抢走了工作,不如说它改变了工作的内容。

    Yǔqí shuō réngōng zhìnéng qiǎngzǒu le gōngzuò, bùrú shuō tā gǎibiàn le gōngzuò de nèiróng.

    Nói AI cướp mất việc làm, chi bằng nói nó thay đổi nội dung công việc.

  • 与其说他是我的老师,不如说他是我的朋友。

    Yǔqí shuō tā shì wǒ de lǎoshī, bùrú shuō tā shì wǒ de péngyou.

    Nói ông ấy là thầy tôi, chẳng bằng nói ông ấy là bạn tôi.

  • 这次失败与其说是运气不好,不如说是准备不足。

    Zhè cì shībài yǔqí shuō shì yùnqi bù hǎo, bùrú shuō shì zhǔnbèi bùzú.

    Thất bại lần này nói là do xui, chi bằng nói là do chuẩn bị chưa đủ.

So với tiếng Việt

Phân biệt với 与其 A,不如 B (thà làm B còn hơn làm A) — đó là lựa chọn hành động. 与其说…不如说… là đánh giá lại nhận định, phải có 说 ở cả hai vế.

Trong bài: Trí tuệ nhân tạo và việc làm

截至 – tính đến (một mốc thời gian)

截至 + thời điểm(,/ 为止)+ số liệu / tình hình

截至 nêu mốc thời gian mà số liệu, tình hình được tính tới; sau nó luôn là một thời điểm cụ thể (日期, 目前, 上月底). Có thể thêm 为止 ở cuối cụm: 截至去年底为止. Rất hay gặp trong tin tức, báo cáo thống kê, thông báo chính thức.

  • 截至今年六月,全市已安装智能信号灯三百多套。

    Jiézhì jīnnián liùyuè, quán shì yǐ ānzhuāng zhìnéng xìnhàodēng sānbǎi duō tào.

    Tính đến tháng Sáu năm nay, toàn thành phố đã lắp hơn ba trăm bộ đèn tín hiệu thông minh.

  • 截至目前,这次暴雨没有造成人员伤亡。

    Jiézhì mùqián, zhè cì bàoyǔ méiyǒu zàochéng rényuán shāngwáng.

    Tính đến thời điểm này, trận mưa lớn chưa gây thương vong về người.

  • 截至去年底为止,该市机动车总量已超过八百万辆。

    Jiézhì qùnián dǐ wéizhǐ, gāi shì jīdòngchē zǒngliàng yǐ chāoguò bābǎi wàn liàng.

    Tính đến cuối năm ngoái, tổng số xe cơ giới của thành phố đã vượt tám triệu chiếc.

So với tiếng Việt

Phân biệt 截至 (zhì – “đến”, sau là mốc thời gian để tính số liệu) với 截止 (zhǐ – “dừng, hết hạn”, thường đứng sau thời gian: 报名下周五截止). Hai từ đọc gần giống nên người Việt hay viết lẫn: “截止今天,已有…” là sai, phải viết 截至今天.

Trong bài: Đô thị thông minh

有待 – còn chờ, còn cần được

Chủ ngữ (đối tượng) + (还/尚) + 有待 + V song âm tiết

有待 cho biết việc gì đó chưa hoàn thành, còn cần được làm tiếp. Chủ ngữ là đối tượng chịu tác động, nên câu mang nghĩa bị động ngầm. Sau 有待 là động từ hai âm tiết: 解决、改善、验证、研究、提高.

  • 这项技术的安全性还有待验证。

    Zhè xiàng jìshù de ānquánxìng hái yǒudài yànzhèng.

    Độ an toàn của công nghệ này còn cần được kiểm chứng.

  • 城市的排水系统有待改善。

    Chéngshì de páishuǐ xìtǒng yǒudài gǎishàn.

    Hệ thống thoát nước của thành phố còn cần cải thiện.

  • 这个问题有待进一步研究。

    Zhège wèntí yǒudài jìnyībù yánjiū.

    Vấn đề này còn cần nghiên cứu thêm.

So với tiếng Việt

Người Việt hay thêm 被 vì nghĩ “được cải thiện”: sai “有待被改善”. 有待 tự mang nghĩa bị động. Cũng không dùng động từ một âm tiết: “有待改” nghe cụt.

Trong bài: Đô thị thông minh

诸如 – chẳng hạn như

诸如 + A、B(、C)+ 之类 / 等

诸如 dẫn ra ví dụ trong một nhóm, văn viết trang trọng; cuối chuỗi ví dụ thường có 之类 hoặc 等. Thành ngữ 诸如此类 nghĩa là “những thứ đại loại như vậy”.

  • 智慧城市可以解决诸如交通拥堵、内涝之类的问题。

    Zhìhuì chéngshì kěyǐ jiějué zhūrú jiāotōng yōngdǔ, nèilào zhī lèi de wèntí.

    Đô thị thông minh có thể giải quyết những vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập úng.

  • 他读过很多书,诸如历史、哲学、经济等。

    Tā dú guò hěn duō shū, zhūrú lìshǐ, zhéxué, jīngjì děng.

    Anh ấy đọc rất nhiều sách, chẳng hạn lịch sử, triết học, kinh tế...

  • 诸如此类的问题,我们以后再讨论。

    Zhūrú cǐlèi de wèntí, wǒmen yǐhòu zài tǎolùn.

    Những vấn đề kiểu như vậy, chúng ta sẽ bàn sau.

So với tiếng Việt

诸如 là bản trang trọng của 比如 / 例如. Khi nói chuyện thường ngày dùng 比如说; 诸如 hợp với bài viết, báo cáo. Không nói “诸如说”.

Trong bài: Đô thị thông minh

予以 – dành cho, tiến hành (văn công vụ)

(对 + đối tượng) + 予以 + V song âm tiết (支持 / 表扬 / 处罚 / 考虑)

予以 = “cho, dành cho”, dùng trong văn bản hành chính, thông báo. Sau 予以 là động từ hai âm tiết mang tính trang trọng. Người hay vật nhận tác động được đưa lên trước bằng 对.

  • 对违规停车的车辆,交警将予以处罚。

    Duì wéiguī tíngchē de chēliàng, jiāojǐng jiāng yǔyǐ chǔfá.

    Xe đỗ sai quy định sẽ bị cảnh sát giao thông xử phạt.

  • 政府对这个试点项目予以大力支持。

    Zhèngfǔ duì zhège shìdiǎn xiàngmù yǔyǐ dàlì zhīchí.

    Chính quyền dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho dự án thí điểm này.

  • 市民提出的意见,我们会认真予以考虑。

    Shìmín tíchū de yìjiàn, wǒmen huì rènzhēn yǔyǐ kǎolǜ.

    Ý kiến người dân nêu ra, chúng tôi sẽ nghiêm túc xem xét.

So với tiếng Việt

Không đặt người sau 予以: sai “予以他表扬” → đúng “对他予以表扬”. Cũng không thêm 了 sau 予以. Giống “tiến hành / dành” trong văn bản tiếng Việt, hãy dùng trong văn viết, đừng dùng khi nói chuyện thường ngày.

Trong bài: Đô thị thông minh

加以 – tiến hành (xử lý, tác động lên đối tượng)

(对 + đối tượng) + 加以 + V song âm tiết (分析 / 保护 / 改进 / 限制)

加以 cho biết sẽ tiến hành một hành động lên đối tượng đã nhắc phía trước. Bản thân 加以 gần như không mang nghĩa, nghĩa nằm ở động từ phía sau (luôn là động từ hai âm tiết). Đối tượng thường đưa lên trước bằng 对 hoặc làm chủ ngữ. Phong cách văn viết.

  • 对濒临失传的手艺,必须及时加以抢救。

    Duì bīnlín shīchuán de shǒuyì, bìxū jíshí jiāyǐ qiǎngjiù.

    Những nghề thủ công sắp thất truyền phải kịp thời được cứu vãn.

  • 这些问题需要认真加以分析。

    Zhèxiē wèntí xūyào rènzhēn jiāyǐ fēnxī.

    Những vấn đề này cần được phân tích nghiêm túc.

  • 传统文化不能照搬,而要加以创新。

    Chuántǒng wénhuà bù néng zhàobān, ér yào jiāyǐ chuàngxīn.

    Văn hóa truyền thống không thể bê nguyên xi, mà phải đổi mới.

So với tiếng Việt

加以 và 予以 (bài 3) đều là “tiến hành” trong văn viết, nhưng 予以 thiên về “trao cho” (予以支持, 予以奖励, 予以处罚), còn 加以 thiên về “xử lý, tác động” (加以分析, 加以改进, 加以保护). Sau cả hai không thêm tân ngữ chỉ người và không thêm 了.

Trong bài: Bảo tồn văn hóa phi vật thể

唯有…才… – chỉ có… mới…

唯有 + điều kiện duy nhất,(chủ ngữ) + 才 + kết quả

唯有 là bản văn viết của 只有, nhấn mạnh đây là điều kiện duy nhất, không có con đường nào khác. Vế sau bắt buộc có 才. 唯有 có thể đứng trước chủ ngữ hoặc ngay trước động từ.

  • 唯有让年轻人喜欢,传统艺术才能真正活下去。

    Wéiyǒu ràng niánqīngrén xǐhuan, chuántǒng yìshù cái néng zhēnzhèng huó xiaqu.

    Chỉ có làm cho giới trẻ yêu thích, nghệ thuật truyền thống mới thực sự sống tiếp được.

  • 唯有坚持,才能看到成果。

    Wéiyǒu jiānchí, cái néng kàndào chéngguǒ.

    Chỉ có kiên trì mới thấy được thành quả.

  • 这门手艺唯有口传心授,才能学到精髓。

    Zhè mén shǒuyì wéiyǒu kǒuchuán-xīnshòu, cái néng xuédào jīngsuǐ.

    Nghề này chỉ có thầy truyền tận tay trò mới học được tinh túy.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng 就 vì nghĩ tới chữ “thì”: sai “唯有坚持,就能成功”. Nhớ cặp: 唯有/只有 … 才; 只要 … 就.

Trong bài: Bảo tồn văn hóa phi vật thể

何尝 – đâu phải, nào có (phản vấn)

Chủ ngữ + 何尝 + (不) + V … ?/。

何尝 dùng trong câu phản vấn để phủ định một cách uyển chuyển: 何尝不 = “đâu phải không” (thật ra là có), 何尝 + khẳng định = “nào có” (thật ra là không). Giọng giãi bày, hơi cảm khái, hay gặp trong văn viết và lời nói trang trọng.

  • 我何尝不想让孩子学这门手艺?可是收入实在太低了。

    Wǒ hécháng bù xiǎng ràng háizi xué zhè mén shǒuyì? Kěshì shōurù shízài tài dī le.

    Tôi đâu phải không muốn cho con học nghề này? Nhưng thu nhập thật sự thấp quá.

  • 商业化何尝不是一种传承的方式?

    Shāngyèhuà hécháng bù shì yī zhǒng chuánchéng de fāngshì?

    Thương mại hóa há chẳng phải cũng là một cách truyền thừa sao?

  • 他何尝说过这样的话?

    Tā hécháng shuō guò zhèyàng de huà?

    Anh ấy nào có nói câu như thế bao giờ?

So với tiếng Việt

Rất dễ hiểu ngược nghĩa! 何尝不想 = rất muốn; 何尝说过 = chưa từng nói. Mẹo: thêm “đâu phải… / nào có…” vào câu tiếng Việt rồi mới dịch.

Trong bài: Bảo tồn văn hóa phi vật thể

之 – trợ từ văn viết (= 的), …之一, 之 trong cụm cố định

Định ngữ + 之 + danh từ ; … 之一 ; 当务之急 / 无价之宝 / 一技之长

Trong văn viết, 之 thay cho 的 ở các cụm trang trọng, ngắn gọn: 文化之根 (gốc rễ của văn hóa), 民族之魂 (hồn dân tộc). …之一 = một trong những…, dùng rất nhiều khi giới thiệu. Nhiều cụm bốn chữ cố định cũng giữ 之: 当务之急 (việc cấp bách trước mắt), 无价之宝 (báu vật vô giá), 一技之长 (một nghề trong tay). (之所以…是因为… đã học ở HSK 5.)

  • 水上木偶戏是越南最有代表性的非遗之一。

    Shuǐshàng mù'ǒuxì shì Yuènán zuì yǒu dàibiǎoxìng de fēiyí zhī yī.

    Múa rối nước là một trong những di sản phi vật thể tiêu biểu nhất của Việt Nam.

  • 语言是文化之根。

    Yǔyán shì wénhuà zhī gēn.

    Ngôn ngữ là gốc rễ của văn hóa.

  • 培养年轻的艺人是当务之急。

    Péiyǎng niánqīng de yìrén shì dāngwù zhī jí.

    Đào tạo nghệ nhân trẻ là việc cấp bách trước mắt.

  • 学一门手艺,就有了一技之长。

    Xué yī mén shǒuyì, jiù yǒu le yī jì zhī cháng.

    Học một nghề là có được một nghề trong tay.

So với tiếng Việt

Không thay 的 bằng 之 tùy tiện khi nói chuyện: “我之书” nghe rất cổ. Chỉ dùng 之 khi hai vế đều ngắn, gọn (thường 1–2 âm tiết mỗi bên) và văn phong trang trọng. “Một trong những…” phải đặt 之一 ở CUỐI cụm danh từ: 最重要的问题之一, không nói “之一最重要的问题”.

Trong bài: Bảo tồn văn hóa phi vật thể

倘若 – nếu như (văn viết)

倘若 + giả thiết,(chủ ngữ) + 就 / 便 + kết quả

倘若 là liên từ giả thiết, nghĩa như 如果, 要是 nhưng trang trọng hơn, hay gặp trong văn bản, hướng dẫn, bài nghị luận. Vế sau thường có 就, 便, 那么 để nối kết quả.

  • 倘若病情加重,就应该马上去医院。

    Tǎngruò bìngqíng jiāzhòng, jiù yīnggāi mǎshàng qù yīyuàn.

    Nếu bệnh nặng thêm thì nên đến bệnh viện ngay.

  • 倘若只靠偏方,很可能耽误治疗。

    Tǎngruò zhǐ kào piānfāng, hěn kěnéng dānwu zhìliáo.

    Nếu chỉ dựa vào bài thuốc dân gian, rất có thể lỡ mất thời cơ chữa trị.

  • 倘若有任何疑虑,请随时与我们联系。

    Tǎngruò yǒu rènhé yílǜ, qǐng suíshí yǔ wǒmen liánxì.

    Nếu có bất kỳ băn khoăn nào, xin liên hệ với chúng tôi bất cứ lúc nào.

So với tiếng Việt

倘若 chỉ đứng ở vế giả thiết (vế đầu), không đứng ở vế kết quả. Khi nói chuyện thường ngày dùng 如果 / 要是 cho tự nhiên; 倘若 dành cho văn viết và lời nói trang trọng.

Trong bài: Y học cổ truyền Trung Hoa

未免 – thì hơi… quá (phê bình nhẹ)

Chủ ngữ + 未免 + (太 / 有点儿 / 过于) + Adj / V

未免 thể hiện đánh giá chủ quan, cho rằng việc gì đó vượt quá mức hợp lý, nhưng nói một cách nhẹ nhàng, lịch sự. Sau 未免 thường có 太, 有点儿, 过于, 过分.

  • 只用一次就说中医没用,未免太武断了。

    Zhǐ yòng yī cì jiù shuō zhōngyī méiyòng, wèimiǎn tài wǔduàn le.

    Mới dùng một lần đã nói Đông y vô dụng thì hơi vội vàng quá.

  • 把中药当成万能药,未免过于迷信。

    Bǎ zhōngyào dàngchéng wànnéngyào, wèimiǎn guòyú míxìn.

    Coi thuốc bắc là thuốc vạn năng thì hơi mê tín quá.

  • 这个价格未免有点儿高。

    Zhège jiàgé wèimiǎn yǒudiǎnr gāo.

    Giá này hơi cao một chút.

So với tiếng Việt

Đừng để Hán Việt “vị miễn” đánh lừa: 未免 KHÔNG phải “không tránh khỏi” (đó là 难免 / 不免). 未免 là nhận xét “như thế thì hơi… quá”, dùng để góp ý tế nhị.

Trong bài: Y học cổ truyền Trung Hoa

时而…时而… – lúc thì… lúc thì…

Chủ ngữ + 时而 + A,时而 + B (A, B là hai trạng thái / hành động luân phiên)

时而…时而… mô tả hai (hoặc nhiều) trạng thái thay nhau xuất hiện không đều đặn: lúc thế này, lúc thế kia. Thường dùng để tả triệu chứng, thời tiết, tâm trạng, âm thanh. Dùng một 时而 đơn lẻ thì nghĩa là “thỉnh thoảng, đôi lúc” (văn viết).

  • 这几天我的胃时而疼,时而不疼。

    Zhè jǐ tiān wǒ de wèi shí'ér téng, shí'ér bù téng.

    Mấy hôm nay dạ dày tôi lúc đau lúc không.

  • 病人的体温时而高,时而低,医生决定再观察两天。

    Bìngrén de tǐwēn shí'ér gāo, shí'ér dī, yīshēng juédìng zài guānchá liǎng tiān.

    Thân nhiệt bệnh nhân lúc cao lúc thấp, bác sĩ quyết định theo dõi thêm hai ngày.

  • 窗外时而传来几声鸟叫。

    Chuāng wài shí'ér chuánlái jǐ shēng niǎo jiào.

    Ngoài cửa sổ thỉnh thoảng vọng vào vài tiếng chim hót.

So với tiếng Việt

Giống hệt “lúc thì… lúc thì…” của tiếng Việt, nhưng hai vế nên cân đối (疼 / 不疼, 高 / 低). Khi nói chuyện thường ngày người Trung Quốc hay dùng 一会儿…一会儿…; 时而 hợp văn viết và lời mô tả trang trọng (như khi kể bệnh với bác sĩ, viết bệnh án).

Trong bài: Y học cổ truyền Trung Hoa

其 – đại từ văn viết (của nó, của họ; nó, họ)

其 + danh từ (= 他/它的) ; 使 / 令 / 任 + 其 + V

其 là đại từ văn viết, thay cho 他(们)的, 它(们)的 khi đứng trước danh từ, hoặc thay cho 他, 它 khi đứng sau 使, 令, 任, 让. Giúp câu văn gọn và trang trọng, tránh lặp lại danh từ đã nêu.

  • 中医有其独特的理论体系。

    Zhōngyī yǒu qí dútè de lǐlùn tǐxì.

    Đông y có hệ thống lý luận độc đáo của nó.

  • 我们既不能夸大其作用,也不能全盘否定。

    Wǒmen jì bù néng kuādà qí zuòyòng, yě bù néng quánpán fǒudìng.

    Chúng ta không thể thổi phồng tác dụng của nó, cũng không thể phủ định hoàn toàn.

  • 医生调整了药方,使其更适合病人的体质。

    Yīshēng tiáozhěng le yàofāng, shǐ qí gèng shìhé bìngrén de tǐzhì.

    Bác sĩ điều chỉnh đơn thuốc để nó phù hợp hơn với cơ địa bệnh nhân.

So với tiếng Việt

其 không làm chủ ngữ độc lập ở đầu câu (sai “其很有效”) và không đi với 的 (sai “其的作用”). Hãy nghĩ tới “của nó / nó” trong văn viết tiếng Việt.

Trong bài: Y học cổ truyền Trung Hoa

不料 – nào ngờ, không ngờ

Vế 1 (dự định / tình huống),不料 + kết quả bất ngờ

不料 đứng đầu vế sau, cho biết sự việc xảy ra ngoài dự liệu, thường là điều không như ý. Đây là cách nói văn viết của 没想到. Có thể đi kèm 却, 竟然 để tăng sắc thái bất ngờ.

  • 我本想今天早点完成报告,不料又被一个电话打断了。

    Wǒ běn xiǎng jīntiān zǎo diǎn wánchéng bàogào, bùliào yòu bèi yī gè diànhuà dǎduàn le.

    Tôi định hôm nay xong báo cáo sớm, nào ngờ lại bị một cuộc điện thoại cắt ngang.

  • 公司提高了奖金,不料员工的积极性反而下降了。

    Gōngsī tígāo le jiǎngjīn, bùliào yuángōng de jījíxìng fǎn'ér xiàjiàng le.

    Công ty tăng thưởng, không ngờ tinh thần làm việc của nhân viên lại giảm.

  • 他以为这次实验会失败,不料结果出奇地好。

    Tā yǐwéi zhè cì shíyàn huì shībài, bùliào jiéguǒ chūqí de hǎo.

    Anh ấy tưởng lần thí nghiệm này sẽ thất bại, nào ngờ kết quả tốt bất ngờ.

So với tiếng Việt

不料 không đi sau chủ ngữ “我”: sai “我不料下雨了”. Muốn có chủ ngữ thì dùng 没想到 (我没想到下雨了); dùng 不料 thì đặt ở đầu vế sau.

Trong bài: Tâm lý học hành vi

莫非 – lẽ nào, phải chăng (phỏng đoán)

莫非 + phỏng đoán + (吗 / 不成)?

莫非 nêu một phỏng đoán khi thấy hiện tượng bất thường, người nói nghiêng về tin rằng phỏng đoán ấy đúng. Cuối câu có thể thêm 吗 hoặc 不成. Gần với 难道, nhưng 难道 thiên về phản vấn (người nói đã biết câu trả lời), còn 莫非 thiên về đoán.

  • 他最近总是迟到,莫非遇到了什么困难?

    Tā zuìjìn zǒngshì chídào, mòfēi yùdào le shénme kùnnan?

    Dạo này anh ấy hay đi muộn, phải chăng gặp khó khăn gì?

  • 大家都在排队,莫非这家店真的那么好吃?

    Dàjiā dōu zài páiduì, mòfēi zhè jiā diàn zhēn de nàme hǎochī?

    Ai cũng xếp hàng, lẽ nào quán này ngon thật đến thế?

  • 会议室这么安静,莫非会议取消了不成?

    Huìyìshì zhème ānjìng, mòfēi huìyì qǔxiāo le bùchéng?

    Phòng họp yên ắng thế này, chẳng lẽ cuộc họp bị hủy rồi?

So với tiếng Việt

Khi trách móc, phản bác thì dùng 难道 (难道你不知道吗? – Lẽ nào anh không biết? → anh phải biết chứ). Còn “莫非你不知道?” là thật sự đoán rằng anh không biết.

Trong bài: Tâm lý học hành vi

恰恰 – chính, đúng (ngược với điều người ta nghĩ)

恰恰 + 是 / 相反 / 说明 / V… ; 恰恰相反,…

恰恰 nhấn mạnh rằng sự thật “đúng chính là” điều này, thường ngược với dự đoán hoặc quan niệm phổ biến vừa nêu. Hay gặp nhất: 恰恰是 (chính là), 恰恰相反 (trái lại hoàn toàn), 恰恰说明 (chính điều đó cho thấy). Đây là từ “đắt” trong bài nghị luận khi muốn lật lại một ý kiến.

  • 很多人以为拖延是因为懒,恰恰相反,拖延的人常常压力很大。

    Hěn duō rén yǐwéi tuōyán shì yīnwèi lǎn, qiàqià xiāngfǎn, tuōyán de rén chángcháng yālì hěn dà.

    Nhiều người tưởng trì hoãn là do lười, trái lại hoàn toàn, người hay trì hoãn thường chịu áp lực rất lớn.

  • 你最担心的地方,恰恰是你最需要改进的地方。

    Nǐ zuì dānxīn de dìfang, qiàqià shì nǐ zuì xūyào gǎijìn de dìfang.

    Điều bạn lo nhất lại chính là điều bạn cần cải thiện nhất.

  • 他不愿意承认错误,这恰恰说明他还不够成熟。

    Tā bù yuànyì chéngrèn cuòwù, zhè qiàqià shuōmíng tā hái bù gòu chéngshú.

    Anh ấy không chịu nhận lỗi, chính điều đó cho thấy anh ấy chưa đủ chín chắn.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm 恰恰 với 恰好 (vừa khéo, tình cờ đúng lúc: 我到车站的时候,车恰好来了). 恰恰 mang sắc thái lập luận “chính là / lại chính là” để đối lập với ý người khác; 恰好 chỉ sự trùng hợp. Câu tiếng Việt có “lại chính là”, “trái lại hoàn toàn” thường dịch bằng 恰恰.

Trong bài: Tâm lý học hành vi

据 – theo, căn cứ theo (nguồn tin)

据 + nguồn tin + 报道 / 统计 / 调查 / 了解,… ; 据悉 / 据说 / 据称,…

据 dẫn ra nguồn của thông tin: 据新华社报道 (theo Tân Hoa xã đưa tin), 据统计 (theo thống kê), 据了解 (được biết). Các dạng rút gọn rất hay gặp trên báo: 据悉 (được biết), 据称 (theo lời người ta nói, chưa kiểm chứng), 据说 (nghe nói – khẩu ngữ). Đọc tin tức, gặp 据 là biết ngay câu này đang “dẫn nguồn”.

  • 据卫生部门通报,目前没有发现产品质量问题。

    Jù wèishēng bùmén tōngbào, mùqián méiyǒu fāxiàn chǎnpǐn zhìliàng wèntí.

    Theo thông báo của cơ quan y tế, hiện chưa phát hiện vấn đề chất lượng sản phẩm.

  • 据统计,超过六成的网民曾经转发过未经核实的消息。

    Jù tǒngjì, chāoguò liù chéng de wǎngmín céngjīng zhuǎnfā guò wèi jīng héshí de xiāoxi.

    Theo thống kê, hơn 60% cư dân mạng từng chia sẻ tin chưa được kiểm chứng.

  • 据称,这些照片是在三年前拍的。

    Jùchēng, zhèxiē zhàopiàn shì zài sān nián qián pāi de.

    Theo lời một số người, những bức ảnh này được chụp ba năm trước.

So với tiếng Việt

据 = “theo” khi dẫn nguồn, nhưng không thay được mọi chữ “theo” của tiếng Việt: “theo tôi” là 我认为 / 在我看来, không nói “据我”; “làm theo hướng dẫn” là 按照说明. Khi viết tin, phân biệt 据悉 (nguồn đáng tin, đã nắm được) với 据称 (người ta nói vậy, người viết chưa xác nhận) — nhà báo cẩn thận dùng 据称 cho tin chưa kiểm chứng.

Trong bài: Truyền thông và tin giả

而已 – mà thôi, chỉ… thôi

(只 / 不过 / 仅仅) + … + 而已

而已 đặt cuối câu, làm nhẹ đi mức độ của sự việc: “chỉ có vậy mà thôi”. Thường đi với 只, 不过, 仅仅, 无非 ở phía trước. Văn viết lẫn nói đều dùng, sắc thái hơi trang trọng hơn 罢了.

  • 这不过是一个标题党而已,别太当真。

    Zhè bùguò shì yī gè biāotídǎng éryǐ, bié tài dàngzhēn.

    Đây chẳng qua là bài giật tít mà thôi, đừng quá tin.

  • 我只是提了一个建议而已,决定权在你。

    Wǒ zhǐshì tí le yī gè jiànyì éryǐ, juédìngquán zài nǐ.

    Tôi chỉ góp ý thôi, quyền quyết định là ở bạn.

  • 所谓的“内部消息”,仅仅是一个人的猜测而已。

    Suǒwèi de “nèibù xiāoxi”, jǐnjǐn shì yī gè rén de cāicè éryǐ.

    Cái gọi là “tin nội bộ” chỉ là phỏng đoán của một người mà thôi.

So với tiếng Việt

Giống “mà thôi” cuối câu tiếng Việt. Không nên dùng 而已 sau 了 kiểu “而已了”. Khi đã có 而已 thì có thể bỏ 只, nhưng thêm 只/不过 sẽ tự nhiên hơn.

Trong bài: Truyền thông và tin giả

非但…反而… – chẳng những không… mà ngược lại còn…

非但 + 不/没 + A,反而 + B (ngược với mong đợi)

Vế trước phủ định kết quả mong đợi, vế sau nêu kết quả trái ngược. Người nói tỏ ra ngạc nhiên hoặc phê phán. Vế trước phải có 不 hoặc 没; 非但 có thể đứng trước hoặc sau chủ ngữ.

  • 他的解释非但没有澄清误会,反而让大家更怀疑了。

    Tā de jiěshì fēidàn méiyǒu chéngqīng wùhuì, fǎn'ér ràng dàjiā gèng huáiyí le.

    Lời giải thích của anh ta chẳng những không làm rõ hiểu lầm, mà ngược lại khiến mọi người càng nghi ngờ.

  • 删帖非但不能平息舆论,反而会引起更大的反感。

    Shān tiě fēidàn bù néng píngxī yúlùn, fǎn'ér huì yǐnqǐ gèng dà de fǎngǎn.

    Xóa bài chẳng những không dẹp được dư luận, ngược lại còn gây phản cảm lớn hơn.

  • 吃了药,他的病非但没好,反而加重了。

    Chī le yào, tā de bìng fēidàn méi hǎo, fǎn'ér jiāzhòng le.

    Uống thuốc rồi, bệnh anh ấy chẳng những không đỡ mà còn nặng hơn.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm với 不但…而且… (không những… mà còn…, hai vế cùng chiều). 非但…反而… là hai vế NGƯỢC chiều, vế đầu phải có phủ định. Sai: “他非但聪明,反而很努力”.

Trong bài: Truyền thông và tin giả

以…为由 – lấy… làm lý do, viện cớ…

Chủ ngữ + 以 + lý do + 为由,+ hành động (thường là từ chối, hủy, đòi hỏi)

以 A 为由 nghĩa là “lấy A làm lý do”, thường hàm ý lý do ấy chỉ là cái cớ, hoặc nêu lý do chính thức trong văn bản. Hành động phía sau thường là từ chối, trì hoãn, sa thải, hủy bỏ. Văn viết, hay gặp trong tin pháp luật, kinh tế.

  • 公司以经营困难为由,拒绝支付员工的加班费。

    Gōngsī yǐ jīngyíng kùnnan wéi yóu, jùjué zhīfù yuángōng de jiābānfèi.

    Công ty viện cớ kinh doanh khó khăn để từ chối trả tiền tăng ca cho nhân viên.

  • 他以身体不适为由,没有出席会议。

    Tā yǐ shēntǐ bùshì wéi yóu, méiyǒu chūxí huìyì.

    Ông ấy lấy lý do không khỏe để vắng mặt cuộc họp.

  • 对方以合同条款不明确为由,要求重新谈判。

    Duìfāng yǐ hétong tiáokuǎn bù míngquè wéi yóu, yāoqiú chóngxīn tánpàn.

    Phía đối tác lấy lý do điều khoản hợp đồng không rõ ràng để đòi đàm phán lại.

So với tiếng Việt

为 ở đây đọc wéi (thanh 2), không phải wèi. Người Việt hay dịch thẳng “với lý do” thành “用…理由”: sai. Cấu trúc cố định là 以…为由, giữa hai chữ là lý do.

Trong bài: Đạo đức kinh doanh

况且 – hơn nữa, vả lại

Lý do 1,况且 + lý do 2 (bổ sung, tăng sức thuyết phục)

况且 dùng để bổ sung thêm một lý do nữa nhằm củng cố lập luận, thường đứng đầu vế sau, có thể đi với 又, 也, 还. Nghĩa giống 再说, 何况 nhưng 况且 chỉ dùng để thêm lý do, không dùng trong câu phản vấn.

  • 收回扣是违法的,况且一旦被发现,你的职业生涯就完了。

    Shōu huíkòu shì wéifǎ de, kuàngqiě yīdàn bèi fāxiàn, nǐ de zhíyè shēngyá jiù wán le.

    Nhận tiền lại quả là phạm pháp, vả lại một khi bị phát hiện thì sự nghiệp của anh coi như xong.

  • 现在去已经太晚了,况且外面还在下雨。

    Xiànzài qù yǐjīng tài wǎn le, kuàngqiě wàimiàn hái zài xià yǔ.

    Bây giờ đi thì muộn quá rồi, hơn nữa bên ngoài vẫn đang mưa.

  • 这个价格很合理,况且他们的售后服务也很好。

    Zhège jiàgé hěn hélǐ, kuàngqiě tāmen de shòuhòu fúwù yě hěn hǎo.

    Giá này rất hợp lý, vả lại dịch vụ hậu mãi của họ cũng rất tốt.

So với tiếng Việt

Hai lý do phải cùng hướng về một kết luận. Không dùng 况且 để nối hai ý trái ngược (khi đó dùng 但是, 然而). Khi nói chuyện thường ngày, 再说 tự nhiên hơn; 况且 hợp với lập luận trang trọng.

Trong bài: Đạo đức kinh doanh

于 – giới từ văn viết (ở, tại, đối với, hơn, từ)

V + 于 + nơi chốn / thời gian / đối tượng ; Adj + 于 + B (so sánh)

于 là giới từ văn viết, thay cho 在, 对, 从, 比 tùy ngữ cảnh: 成立于2010年 (thành lập vào năm 2010), 有利于 (có lợi cho), 来自于, 高于 (cao hơn). Nhiều cụm cố định: 致力于, 在于, 取决于, 归功于, 有助于. Học theo cụm là cách hiệu quả nhất.

  • 这家公司成立于2005年,一直致力于环保产品的开发。

    Zhè jiā gōngsī chénglì yú èr líng líng wǔ nián, yīzhí zhìlì yú huánbǎo chǎnpǐn de kāifā.

    Công ty này thành lập năm 2005, luôn dốc sức phát triển sản phẩm thân thiện môi trường.

  • 诚信经营有利于企业的长期发展。

    Chéngxìn jīngyíng yǒulì yú qǐyè de chángqī fāzhǎn.

    Kinh doanh trung thực có lợi cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.

  • 今年的利润明显高于去年。

    Jīnnián de lìrùn míngxiǎn gāo yú qùnián.

    Lợi nhuận năm nay rõ ràng cao hơn năm ngoái.

  • 成功与否,关键在于能否守住底线。

    Chénggōng yǔ fǒu, guānjiàn zàiyú néngfǒu shǒuzhù dǐxiàn.

    Thành công hay không, then chốt là ở chỗ có giữ được giới hạn cuối cùng không.

So với tiếng Việt

Cấu trúc 于 thường đặt SAU động từ/tính từ (高于去年), ngược với 在/比 đặt trước. Người Việt hay viết lẫn “比去年高于” — sai, chỉ chọn một: 比去年高 hoặc 高于去年.

Trong bài: Đạo đức kinh doanh

不妨 – cứ thử, chẳng ngại gì

(Chủ ngữ) + 不妨 + V (一下 / 试试 / 看看)

不妨 dùng để gợi ý nhẹ nhàng: làm như vậy cũng chẳng hại gì, cứ thử xem. Giọng thân thiện, khéo léo, rất hợp khi khuyên người khác hoặc trong bài viết hướng dẫn. Động từ sau thường có 一下, 试试, 看看 hoặc là cụm động từ.

  • 如果你还没想好学什么专业,不妨先选修几门不同的课程。

    Rúguǒ nǐ hái méi xiǎnghǎo xué shénme zhuānyè, bùfáng xiān xuǎnxiū jǐ mén bùtóng de kèchéng.

    Nếu bạn chưa nghĩ ra học ngành gì, cứ thử chọn học vài môn khác nhau trước.

  • 你不妨换个角度想一想。

    Nǐ bùfáng huàn gè jiǎodù xiǎng yi xiǎng.

    Bạn thử nghĩ từ một góc độ khác xem.

  • 有什么意见,大家不妨直说。

    Yǒu shénme yìjiàn, dàjiā bùfáng zhí shuō.

    Có ý kiến gì, mọi người cứ nói thẳng.

So với tiếng Việt

不妨 là lời gợi ý, không phải mệnh lệnh; đừng dùng trong tình huống bắt buộc (khi đó dùng 务必, 必须). Đừng hiểu theo Hán Việt “bất phương” (không ngăn trở) rồi dịch cứng; hãy dịch là “cứ thử…, không ngại…”.

Trong bài: Giáo dục khai phóng

以 – giới từ văn viết (mở rộng: bằng, với; để)

以 + phương thức / tiêu chuẩn + V ; …,以 + V (mục đích)

Ở HSK 4–5 bạn đã học 以 A 为 B (lấy A làm B). Bài này mở rộng hai cách dùng văn viết khác của 以: ① “bằng, với” — nêu phương thức, thành tích, thái độ: 以优异的成绩毕业 (tốt nghiệp với thành tích xuất sắc), 以开放的态度 (với thái độ cởi mở); ② đứng đầu vế sau chỉ mục đích “để, nhằm”: …,以提高效率. Nắm thêm hai cách này là đọc được phần lớn văn bản học thuật, thông báo của nhà trường.

  • 她以全校第一的成绩考上了大学。

    Tā yǐ quán xiào dì-yī de chéngjì kǎoshàng le dàxué.

    Cô ấy đỗ đại học với thành tích đứng đầu toàn trường.

  • 老师应该以开放的态度对待学生的提问。

    Lǎoshī yīnggāi yǐ kāifàng de tàidù duìdài xuésheng de tíwèn.

    Giáo viên nên đón nhận câu hỏi của học sinh với thái độ cởi mở.

  • 学校开设了跨学科课程,以拓宽学生的视野。

    Xuéxiào kāishè le kuàxuékē kèchéng, yǐ tuòkuān xuésheng de shìyě.

    Nhà trường mở các môn liên ngành để mở rộng tầm nhìn cho sinh viên.

So với tiếng Việt

Khi 以 chỉ mục đích thì đứng ở vế SAU, ngược với 为了 thường đứng vế trước: 为了提高效率,我们… = 我们…,以提高效率. Người Việt hay dịch “với thành tích…” thành “用…成绩” — sai, phải dùng 以. Trong khẩu ngữ, cách ① thường thay bằng 用 / 带着, cách ② thay bằng 好 / 为了.

Trong bài: Giáo dục khai phóng

无非 – chẳng qua chỉ là, không ngoài

Chủ ngữ + 无非 + (是) + … (+ 而已 / 罢了)

无非 nghĩa là “không ngoài, chẳng qua chỉ là”, dùng để thu hẹp phạm vi, cho rằng sự việc đơn giản hơn người ta nghĩ, đôi khi kèm sắc thái xem nhẹ. Thường đi với 是 phía sau và 而已 / 罢了 ở cuối câu.

  • 很多家长让孩子读热门专业,无非是希望将来好找工作。

    Hěn duō jiāzhǎng ràng háizi dú rèmén zhuānyè, wúfēi shì xīwàng jiānglái hǎo zhǎo gōngzuò.

    Nhiều phụ huynh cho con học ngành “hot” chẳng qua là mong sau này dễ tìm việc.

  • 所谓的成功秘诀,无非是坚持和努力而已。

    Suǒwèi de chénggōng mìjué, wúfēi shì jiānchí hé nǔlì éryǐ.

    Cái gọi là bí quyết thành công chẳng qua chỉ là kiên trì và nỗ lực mà thôi.

  • 他说这些话,无非是想让你帮他一个忙。

    Tā shuō zhèxiē huà, wúfēi shì xiǎng ràng nǐ bāng tā yī gè máng.

    Anh ta nói những lời này chẳng qua là muốn nhờ bạn giúp một việc.

So với tiếng Việt

Hán Việt “vô phi” dễ khiến người Việt hiểu thành “không phải”. Thật ra 无非 = “chẳng qua chỉ là” (khẳng định trong phạm vi hẹp). 无非 thường đi kèm 而已 (bài 7).

Trong bài: Giáo dục khai phóng

要么…要么… – hoặc là… hoặc là… (buộc chọn một)

要么 + A,要么 + B ; 要么…,要么…,(没有第三条路)

要么…要么… nêu hai (đôi khi ba) khả năng loại trừ nhau, người nghe buộc phải chọn một, ngoài ra không còn cách nào khác. Thường dùng khi phân tích phương án, ra quyết định, hoặc nói giọng dứt khoát. Đứng trước động từ hoặc trước cả mệnh đề.

  • 电网跟不上的时候,电站要么限电,要么把电存起来。

    Diànwǎng gēn bù shàng de shíhou, diànzhàn yàome xiàndiàn, yàome bǎ diàn cún qǐlai.

    Khi lưới điện không theo kịp, nhà máy hoặc là cắt giảm phát điện, hoặc là trữ điện lại.

  • 要么现在就投资储能,要么以后付出更大的代价。

    Yàome xiànzài jiù tóuzī chǔnéng, yàome yǐhòu fùchū gèng dà de dàijià.

    Hoặc là đầu tư lưu trữ ngay bây giờ, hoặc là sau này trả giá đắt hơn.

  • 周末我们要么在家休息,要么去郊外走走。

    Zhōumò wǒmen yàome zài jiā xiūxi, yàome qù jiāowài zǒuzou.

    Cuối tuần chúng tôi hoặc ở nhà nghỉ, hoặc ra ngoại ô dạo chơi.

So với tiếng Việt

Khác 或者 (hoặc, chỉ liệt kê khả năng, câu trần thuật) và 还是 (hay, dùng trong câu hỏi lựa chọn): 要么…要么… nhấn mạnh “chỉ có hai đường, phải chọn một”, giọng dứt khoát hơn. Không dùng 要么 trong câu hỏi: sai “你要么喝茶要么喝咖啡?” → “你喝茶还是喝咖啡?”.

Trong bài: Năng lượng tái tạo

照样 – vẫn cứ (như thường), vẫn y như vậy

(Điều kiện thay đổi / bất lợi),Chủ ngữ + 照样 + V

照样 cho biết dù hoàn cảnh đã thay đổi hoặc có trở ngại, sự việc vẫn diễn ra như cũ, không bị ảnh hưởng. Vế trước thường nêu điều kiện bất lợi (没有…, 即使…, 不管…), vế sau dùng 照样 để khẳng định kết quả không đổi. Sắc thái hơi khẩu ngữ, tự nhiên.

  • 就算停电了,有了储能电池,医院照样能正常运转。

    Jiùsuàn tíngdiàn le, yǒu le chǔnéng diànchí, yīyuàn zhàoyàng néng zhèngcháng yùnzhuǎn.

    Dù mất điện, có pin lưu trữ thì bệnh viện vẫn hoạt động bình thường.

  • 补助取消以后,屋顶光伏照样很受欢迎。

    Bǔzhù qǔxiāo yǐhòu, wūdǐng guāngfú zhàoyàng hěn shòu huānyíng.

    Sau khi bỏ trợ cấp, điện mặt trời áp mái vẫn được ưa chuộng như thường.

  • 没有冷气,老一辈人照样过了几十个夏天。

    Méiyǒu lěngqì, lǎo yī bèi rén zhàoyàng guò le jǐshí gè xiàtiān.

    Không có máy lạnh, thế hệ trước vẫn sống qua mấy chục mùa hè như thường.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dùng 还是 cho mọi chữ “vẫn”. 照样 mạnh hơn: “vẫn y như cũ, chẳng hề hấn gì”, và chỉ hợp khi vế trước có trở ngại / thay đổi. Câu không có trở ngại thì dùng 仍然 / 还是: “他仍然住在河内” chứ không nói “他照样住在河内”.

Trong bài: Năng lượng tái tạo

便 – thì, liền (bản văn viết của 就)

Điều kiện / thời gian + (chủ ngữ) + 便 + V ; 一…便… ; 只要…便…

便 có nghĩa và cách dùng gần như 就 (thì, liền, ngay), nhưng mang sắc thái văn viết. Hay gặp sau điều kiện (只要…便…), sau mốc thời gian (不久便…), trong cặp 一…便… (vừa… liền…). Đọc báo cáo, bài nghị luận, gặp 便 hãy hiểu là 就.

  • 只要有阳光,光伏板便能发电。

    Zhǐyào yǒu yángguāng, guāngfúbǎn biàn néng fādiàn.

    Chỉ cần có nắng, tấm pin mặt trời liền phát điện được.

  • 太阳一下山,用电需求便开始上升。

    Tàiyáng yī xià shān, yòngdiàn xūqiú biàn kāishǐ shàngshēng.

    Mặt trời vừa lặn, nhu cầu dùng điện liền bắt đầu tăng.

  • 政策出台不久,便有大批企业进入这个市场。

    Zhèngcè chūtái bùjiǔ, biàn yǒu dàpī qǐyè jìnrù zhège shìchǎng.

    Chính sách ban hành chưa bao lâu đã có hàng loạt doanh nghiệp vào thị trường này.

So với tiếng Việt

便 đứng trước động từ, sau chủ ngữ (giống 就), không đứng đầu câu: sai “便他来了”. 便 không thay được 就 ở nghĩa nhấn mạnh “chính là” trong khẩu ngữ (这就是我家 – không nói 这便是我家 khi nói chuyện thường ngày; 便是 chỉ dùng trong văn viết). Đừng nhầm với 便 pián trong 便宜.

Trong bài: Năng lượng tái tạo

并非…而是… – không phải là… mà là…

Chủ ngữ + 并非 + A,而是 + B

并非 = 并不是, phủ định dứt khoát một cách hiểu (A), rồi 而是 đưa ra cách hiểu đúng (B). Đây là khung lập luận “bác bỏ – khẳng định” rất hay gặp trong bài nghị luận, giải thích khái niệm. 并非 mang sắc thái văn viết; khi nói chuyện dùng 不是…而是….

  • “无为”并非什么都不做,而是不违背自然规律。

    “Wúwéi” bìngfēi shénme dōu bù zuò, ér shì bù wéibèi zìrán guīlǜ.

    “Vô vi” không phải là không làm gì cả, mà là không trái quy luật tự nhiên.

  • 中庸并非没有原则,而是做事恰到好处。

    Zhōngyōng bìngfēi méiyǒu yuánzé, ér shì zuòshì qiàdào-hǎochù.

    Trung dung không phải là không có nguyên tắc, mà là làm việc vừa đúng mức.

  • 真正的孝道并非只是给父母钱,而是常常关爱他们。

    Zhēnzhèng de xiàodào bìngfēi zhǐshì gěi fùmǔ qián, ér shì chángcháng guān'ài tāmen.

    Đạo hiếu thật sự không chỉ là đưa tiền cho cha mẹ, mà là thường xuyên quan tâm họ.

So với tiếng Việt

Hán Việt “tịnh phi” ít dùng trong tiếng Việt nên nhiều người bỏ qua, nhưng 并非 cực kỳ phổ biến trên báo Trung Quốc. Lỗi thường gặp: dùng 但是 thay 而是 ở vế sau (“并非…,但是…” là sai). Nhớ cặp cố định: 并非 / 不是 … 而是 ….

Trong bài: Triết học Khổng – Lão trong đời sống

看似…实则… – trông thì có vẻ… nhưng thực ra…

A + 看似 + vẻ bề ngoài,(实则 / 其实 / 却) + bản chất thật

看似 nêu ấn tượng bề ngoài (“trông như, tưởng như”), vế sau dùng 实则 (văn viết), 其实 hoặc 却 để vạch ra bản chất thật, thường trái ngược. Cấu trúc này giúp bài viết có chiều sâu: đi từ hiện tượng tới bản chất.

  • 水看似柔弱,实则能穿透坚硬的石头。

    Shuǐ kànsì róuruò, shízé néng chuāntòu jiānyìng de shítou.

    Nước trông có vẻ mềm yếu, thực ra xuyên được cả đá cứng.

  • 这个问题看似简单,其实很难回答。

    Zhège wèntí kànsì jiǎndān, qíshí hěn nán huídá.

    Câu hỏi này trông thì đơn giản, thực ra rất khó trả lời.

  • 他的生活看似平凡,却过得非常自在。

    Tā de shēnghuó kànsì píngfán, què guò de fēicháng zìzai.

    Cuộc sống của ông ấy trông bình thường, nhưng lại rất thảnh thơi.

So với tiếng Việt

看似 khác 好像 / 似乎: 好像 chỉ là phỏng đoán (“hình như”), còn 看似 báo trước rằng vế sau sẽ “lật lại” ấn tượng đó. Vì vậy câu có 看似 gần như luôn có vế chuyển 实则 / 其实 / 却 / 但. Đừng viết “看似…,所以…”.

Trong bài: Triết học Khổng – Lão trong đời sống

算是 – có thể coi là, cũng xem như là

Chủ ngữ + 算是 + đánh giá / danh từ ; (总) 算是 + V 了 (cuối cùng cũng…)

算是 đưa ra một đánh giá dè dặt, không tuyệt đối: “cũng có thể coi là…, tạm xem như…”. Người nói thừa nhận nhưng giữ khoảng cách khiêm tốn. Dạng 总算是 / 算是…了 còn mang nghĩa “cuối cùng thì cũng…” sau một quá trình vất vả.

  • 读了半年《论语》,我算是入门了。

    Dú le bàn nián “Lúnyǔ”, wǒ suànshì rùmén le.

    Đọc “Luận ngữ” nửa năm, tôi cũng coi như đã nhập môn.

  • 他算是我们班最谦虚的学生。

    Tā suànshì wǒmen bān zuì qiānxū de xuésheng.

    Cậu ấy có thể coi là học sinh khiêm tốn nhất lớp chúng tôi.

  • 经过几次讨论,大家总算是达成了一致。

    Jīngguò jǐ cì tǎolùn, dàjiā zǒng suànshì dáchéng le yīzhì.

    Qua mấy lần thảo luận, mọi người cuối cùng cũng thống nhất được.

So với tiếng Việt

算是 nhẹ hơn 是 rất nhiều: “他是专家” là khẳng định, “他算是专家” là “cũng tạm coi là chuyên gia”. Khi tự nói về mình, dùng 算是 nghe khiêm tốn, hợp văn hóa Trung Quốc (我算是了解一点儿). Đừng nhầm với 算了 (thôi bỏ đi).

Trong bài: Triết học Khổng – Lão trong đời sống

好不容易 / 好容易 – mãi mới, vất vả lắm mới

Chủ ngữ + 好不容易 / 好容易 + (才) + V + 了 …

好不容易 và 好容易 đều có nghĩa là “rất không dễ dàng, mãi mới…”, nhấn mạnh kết quả đạt được sau nhiều công sức. Thường đi với 才 phía sau và kết quả đã xảy ra. Đặc biệt: ở vị trí trạng ngữ này, 好容易 cũng mang nghĩa “không dễ” (ngược với mặt chữ) — một ngoại lệ hay bị đề thi khai thác.

  • 谈了三轮,双方好不容易才达成共识。

    Tán le sān lún, shuāngfāng hǎobù róngyì cái dáchéng gòngshí.

    Đàm phán ba vòng, hai bên mãi mới đạt được đồng thuận.

  • 我好容易才把稿子背熟,结果一上台全忘了。

    Wǒ hǎo róngyì cái bǎ gǎozi bèishú, jiéguǒ yī shàngtái quán wàng le.

    Tôi vất vả lắm mới thuộc được bản thảo, vậy mà vừa lên sân khấu là quên sạch.

  • 好不容易约到对方老板,你可别迟到。

    Hǎobù róngyì yuē dào duìfāng lǎobǎn, nǐ kě bié chídào.

    Khó khăn lắm mới hẹn được sếp bên kia, anh đừng có đến muộn đấy.

So với tiếng Việt

Người Việt dễ hiểu 好容易 là “rất dễ” theo mặt chữ. Khi đứng trước động từ + 才 thì cả 好容易 lẫn 好不容易 đều là “mãi mới”. Chỉ khi làm vị ngữ thì mới khác: “这件事好容易” = rất dễ, “这件事好不容易” = rất khó. Để an toàn, khi tự nói hãy dùng 好不容易.

Trong bài: Thuyết trình và đàm phán chuyên nghiệp

不惜 – không tiếc, sẵn sàng (trả giá lớn)

Chủ ngữ + 不惜 + cái giá (代价 / 一切 / 重金 / V…) + 来 / 也要 + mục đích

不惜 cho thấy chủ thể sẵn sàng chịu một cái giá lớn (tiền bạc, thời gian, thậm chí hy sinh) để đạt mục đích. Có thể mang sắc thái quyết tâm (tích cực) hoặc phê phán (bất chấp). Thường gặp: 不惜一切代价, 不惜重金, 不惜血本.

  • 为了拿下这个客户,对手不惜大幅降价。

    Wèile náxià zhège kèhù, duìshǒu bùxī dàfú jiàngjià.

    Để giành khách hàng này, đối thủ không tiếc giảm giá mạnh.

  • 公司不惜重金聘请了一位谈判专家。

    Gōngsī bùxī zhòngjīn pìnqǐng le yī wèi tánpàn zhuānjiā.

    Công ty không tiếc tiền mời một chuyên gia đàm phán.

  • 有些人为了赚钱不惜违反法律。

    Yǒuxiē rén wèile zhuànqián bùxī wéifǎn fǎlǜ.

    Có những người vì tiền mà bất chấp vi phạm pháp luật.

So với tiếng Việt

Sau 不惜 là cái giá phải trả, không phải mục đích. Sai: “不惜成功” (thành công không phải cái giá). Đúng: “不惜一切代价,也要成功”.

Trong bài: Thuyết trình và đàm phán chuyên nghiệp

姑且 – tạm thời, tạm cứ

(Chủ ngữ) + 姑且 + V (tạm chấp nhận, tạm làm)

姑且 diễn tả việc tạm chấp nhận một phương án trong lúc chưa có cách tốt hơn, hoặc tạm gác một vấn đề sang bên. Hay gặp trong đàm phán, thảo luận: 姑且不谈…, 姑且按…算, 姑且试一试.

  • 价格问题我们姑且放一放,先谈交货时间。

    Jiàgé wèntí wǒmen gūqiě fàng yi fàng, xiān tán jiāohuò shíjiān.

    Chuyện giá cả ta tạm gác lại, bàn thời gian giao hàng trước.

  • 这个方案虽然不完美,姑且试一试吧。

    Zhège fāng'àn suīrán bù wánměi, gūqiě shì yi shì ba.

    Phương án này tuy chưa hoàn hảo, cứ tạm thử xem.

  • 姑且不谈成本,单从时间上看,这个计划也不现实。

    Gūqiě bù tán chéngběn, dān cóng shíjiān shàng kàn, zhège jìhuà yě bù xiànshí.

    Tạm chưa nói chi phí, chỉ xét về thời gian thì kế hoạch này cũng không thực tế.

So với tiếng Việt

姑且 là “tạm” mang tính nhượng bộ, khác 暂时 (tạm thời – chỉ thời gian). “姑且不谈 A” = “tạm chưa bàn A”, rất hữu ích để chuyển hướng cuộc đàm phán khi bị kẹt.

Trong bài: Thuyết trình và đàm phán chuyên nghiệp

综上所述 – tóm lại những điều trên

综上所述,+ kết luận

综上所述 đặt đầu đoạn kết của bài viết, báo cáo, bài thuyết trình để tổng hợp các luận điểm đã trình bày và đưa ra kết luận. Phong cách trang trọng. Các cách nói tương tự: 总而言之, 总的来说 (khẩu ngữ hơn), 由此可见 (rút ra nhận định).

  • 综上所述,这个项目在技术和经济上都是可行的。

    Zōng shàng suǒ shù, zhège xiàngmù zài jìshù hé jīngjì shàng dōu shì kěxíng de.

    Tóm lại những điều trên, dự án này khả thi cả về kỹ thuật lẫn kinh tế.

  • 综上所述,我们建议分两个阶段推进合作。

    Zōng shàng suǒ shù, wǒmen jiànyì fēn liǎng gè jiēduàn tuījìn hézuò.

    Tổng hợp các ý trên, chúng tôi đề nghị đẩy mạnh hợp tác theo hai giai đoạn.

  • 综上所述,提高效率的关键在于优化流程。

    Zōng shàng suǒ shù, tígāo xiàolǜ de guānjiàn zàiyú yōuhuà liúchéng.

    Tóm lại, then chốt để nâng hiệu suất nằm ở việc tối ưu quy trình.

So với tiếng Việt

Chỉ dùng 综上所述 khi phía trước đã có ít nhất hai luận điểm; dùng ở đầu bài là sai. Người Việt hay viết “总之综上所述” (thừa) — chỉ chọn một.

Trong bài: Thuyết trình và đàm phán chuyên nghiệp

HSK 7–9Cao cấp

可谓 – có thể nói là, quả là

Chủ ngữ + 可谓 + đánh giá (tính từ / cụm danh từ)

可谓 (khả vị) = 可以说是, dùng để đưa ra một đánh giá mạnh, thường là khen, sau khi đã nêu sự việc. Hay đi với 是 hoặc phó từ chỉ mức độ: 可谓用心良苦 (quả là dụng tâm), 可谓一字千金. Văn viết, trang trọng.

  • 这部译作忠实而通顺,可谓近年来的佳作。

    Zhè bù yìzuò zhōngshí ér tōngshùn, kěwèi jìnnián lái de jiāzuò.

    Bản dịch này vừa trung thành vừa trôi chảy, có thể nói là tác phẩm hay của những năm gần đây.

  • 为了一个字眼,他查了三天资料,可谓用心良苦。

    Wèile yī gè zìyǎn, tā chá le sān tiān zīliào, kěwèi yòngxīn liángkǔ.

    Vì một chữ mà anh ấy tra tài liệu ba ngày, quả là dụng tâm.

  • 同声传译对反应速度的要求可谓极高。

    Tóngshēng chuányì duì fǎnyìng sùdù de yāoqiú kěwèi jí gāo.

    Dịch cabin đòi hỏi tốc độ phản xạ có thể nói là cực cao.

So với tiếng Việt

谓 là “gọi là, nói là” (所谓 = cái gọi là), không phải “vị” trong “mùi vị” (味). Đừng viết 可谓是 quá dày đặc; trong văn trang trọng 可谓 đứng một mình là đủ.

Trong bài: Biên phiên dịch Trung – Việt

换言之 – nói cách khác

Ý A,换言之,ý B (diễn đạt lại A rõ hơn)

换言之 dùng để diễn đạt lại ý vừa nói theo cách rõ ràng, cụ thể hơn; ý sau không phải ý mới mà là cách hiểu khác của ý trước. Khẩu ngữ dùng 也就是说 hoặc 换句话说.

  • 翻译不是换词,换言之,是换一种思维方式。

    Fānyì bù shì huàn cí, huàn yán zhī, shì huàn yī zhǒng sīwéi fāngshì.

    Dịch không phải là thay từ, nói cách khác, là thay một lối tư duy.

  • 该词在越南语中没有对等词,换言之,只能意译。

    Gāi cí zài Yuènányǔ zhōng méiyǒu duìděng cí, huàn yán zhī, zhǐ néng yìyì.

    Từ này không có từ tương đương trong tiếng Việt, nói cách khác, chỉ có thể dịch ý.

  • 他从未出过错,换言之,他是团队里最可靠的译员。

    Tā cóng wèi chū guo cuò, huàn yán zhī, tā shì tuánduì lǐ zuì kěkào de yìyuán.

    Anh ấy chưa từng sai, nói cách khác, anh là phiên dịch viên đáng tin nhất nhóm.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm 换言之 (nói cách khác) với 总之 (tóm lại) hay 否则 (nếu không thì). Chữ 之 ở đây là đại từ “nó” của văn ngôn: 换言之 = “đổi lời mà nói điều đó”.

Trong bài: Biên phiên dịch Trung – Việt

并非 A,而是 B – không phải là A, mà là B

Chủ ngữ + 并非 + A,而是 + B

并非 (tịnh phi) = 并不是, phủ định dứt khoát một cách hiểu sai rồi đưa ra cách hiểu đúng bằng 而是. 并 nhấn mạnh “thực ra hoàn toàn không”, thường dùng để bác bỏ một quan niệm phổ biến. Văn viết; khẩu ngữ nói 不是…而是….

  • 翻译并非简单的换词,而是两种思维方式的转换。

    Fānyì bìngfēi jiǎndān de huàn cí, ér shì liǎng zhǒng sīwéi fāngshì de zhuǎnhuàn.

    Dịch thuật không phải là thay từ đơn giản, mà là chuyển đổi giữa hai lối tư duy.

  • “爱人”并非指恋人,而是指配偶。

    “Àiren” bìngfēi zhǐ liànrén, ér shì zhǐ pèi'ǒu.

    “爱人” không phải chỉ người yêu, mà là chỉ vợ hoặc chồng.

  • 译文生硬,问题并非出在词汇量,而是出在语感。

    Yìwén shēngyìng, wèntí bìngfēi chū zài cíhuìliàng, ér shì chū zài yǔgǎn.

    Bản dịch cứng, vấn đề không nằm ở vốn từ, mà ở cảm giác ngôn ngữ.

So với tiếng Việt

并非 không phải “tịnh” (yên lặng) hay “phi” (bay). Lỗi hay gặp: viết 并非…但是… – vế sau phải là 而是 khi đưa ra cách hiểu thay thế. Tiếng Việt “không phải… mà là…” khớp hoàn toàn.

Trong bài: Biên phiên dịch Trung – Việt

莫过于 – không gì bằng, nhất là

Chủ ngữ (最 + tính từ + 的 + danh từ) + 莫过于 + đối tượng

莫过于 (mạc quá ư) = “không gì vượt qua được”, tức là mức cao nhất. Câu thường có dạng 最…的莫过于 X: “cái… nhất chính là X”. Vế trước nêu phạm vi so sánh, vế sau nêu đối tượng đứng đầu.

  • 中越翻译中最危险的莫过于“熟词”。

    Zhōng-Yuè fānyì zhōng zuì wēixiǎn de mòguòyú “shú cí”.

    Nguy hiểm nhất trong dịch Trung – Việt không gì bằng những “từ quen”.

  • 译者最大的快乐,莫过于读者看不出这是译文。

    Yìzhě zuì dà de kuàilè, mòguòyú dúzhě kàn bù chū zhè shì yìwén.

    Niềm vui lớn nhất của người dịch là người đọc không nhận ra đây là bản dịch.

  • 提高语感的办法,莫过于大量阅读原文。

    Tígāo yǔgǎn de bànfǎ, mòguòyú dàliàng yuèdú yuánwén.

    Cách nâng cao cảm giác ngôn ngữ tốt nhất là đọc thật nhiều nguyên văn.

So với tiếng Việt

莫 ở đây là “không có gì” (văn ngôn), không phải “đừng”. 莫过于 đứng ngay trước đối tượng, không thêm 是: “莫过于是…” là thừa.

Trong bài: Biên phiên dịch Trung – Việt

一经…即 / 便 / 就… – một khi đã… thì (lập tức)…

(Chủ ngữ) + 一经 + động từ (hai âm tiết),(chủ ngữ) + 即 / 便 / 就 + kết quả

一经 (nhất kinh) = “hễ đã qua (một bước nào đó)”, nêu điều kiện mà khi đã xảy ra thì kết quả theo sau ngay, không thay đổi được. Vế sau thường dùng 即 (văn viết) hoặc 便 / 就. Rất hay gặp trong hợp đồng, quy chế, thông báo.

  • 本合同一经双方签署并加盖印章,即具有法律效力。

    Běn hétong yījīng shuāngfāng qiānshǔ bìng jiāgài yìnzhāng, jí jùyǒu fǎlǜ xiàolì.

    Hợp đồng này, một khi đã được hai bên ký và đóng dấu, lập tức có hiệu lực pháp lý.

  • 侵权行为一经查实,便须承担赔偿责任。

    Qīnquán xíngwéi yījīng cháshí, biàn xū chéngdān péicháng zérèn.

    Hành vi xâm phạm quyền một khi đã được xác minh thì phải chịu trách nhiệm bồi thường.

  • 判决一经生效,当事人就必须履行。

    Pànjué yījīng shēngxiào, dāngshìrén jiù bìxū lǚxíng.

    Bản án một khi có hiệu lực thì đương sự bắt buộc phải thi hành.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt hay dùng “một khi… thì…”, gần với 一旦 (đã học ở HSK 5). Khác biệt: 一旦 nêu giả định (có thể xảy ra hoặc không), còn 一经 nhấn mạnh “đã qua thủ tục / bước X” là kết quả có ngay; vì vậy 一经 hay đi với động từ thủ tục như 签署、批准、查实、发现.

Trong bài: Văn bản pháp lý – hợp đồng

为…所… – bị / được… (bị động văn viết)

Chủ thể chịu tác động + 为 + tác nhân + 所 + động từ

Cấu trúc bị động văn ngôn còn dùng nhiều trong văn viết hiện đại. 为 đọc wéi. Động từ sau 所 thường là động từ hai âm tiết hoặc có tân ngữ nhỏ. Sắc thái trung tính, có thể tốt hoặc xấu: 为人所知 (được người biết), 为…所骗 (bị… lừa).

  • 这一原则已为各国法律所承认。

    Zhè yī yuánzé yǐ wéi gè guó fǎlǜ suǒ chéngrèn.

    Nguyên tắc này đã được pháp luật các nước thừa nhận.

  • 他不愿为眼前利益所左右。

    Tā bù yuàn wéi yǎnqián lìyì suǒ zuǒyòu.

    Anh ấy không muốn bị lợi ích trước mắt chi phối.

  • 该条款的漏洞最终为对方律师所利用。

    Gāi tiáokuǎn de lòudòng zuìzhōng wéi duìfāng lǜshī suǒ lìyòng.

    Lỗ hổng của điều khoản ấy cuối cùng bị luật sư phía bên kia lợi dụng.

So với tiếng Việt

Đọc 为 là wéi, không phải wèi. Tiếng Việt chỉ có “bị/được” đứng trước động từ, nên người Việt hay quên 所: “为对方利用” là thiếu. Có thể nhớ: 为…所… ≈ “bị/được… mà…”.

Trong bài: Văn bản pháp lý – hợp đồng

以期 – nhằm mong, hòng đạt được

Hành động / biện pháp,以期 + mục tiêu mong đạt

以期 (dĩ kỳ) = “để mong, nhằm đạt”, đứng ở vế sau, nêu kết quả mong muốn của hành động phía trước. Văn phong trang trọng, gặp nhiều trong hợp đồng, báo cáo, văn kiện chính sách.

  • 双方将定期磋商,以期尽快解决争议。

    Shuāngfāng jiāng dìngqī cuōshāng, yǐqī jǐnkuài jiějué zhēngyì.

    Hai bên sẽ tham vấn định kỳ, nhằm mong sớm giải quyết tranh chấp.

  • 我们修改了违约条款,以期降低法律风险。

    Wǒmen xiūgǎi le wéiyuē tiáokuǎn, yǐqī jiàngdī fǎlǜ fēngxiǎn.

    Chúng tôi đã sửa điều khoản vi phạm để mong giảm rủi ro pháp lý.

  • 政府出台新规,以期规范跨境电商市场。

    Zhèngfǔ chūtái xīn guī, yǐqī guīfàn kuàjìng diànshāng shìchǎng.

    Chính phủ ban hành quy định mới nhằm chuẩn hóa thị trường thương mại điện tử xuyên biên giới.

So với tiếng Việt

以期 không đứng đầu câu như “Để…” của tiếng Việt. Dịch sang tiếng Việt, có thể đảo lên đầu: “Để sớm giải quyết tranh chấp, hai bên sẽ tham vấn định kỳ.”

Trong bài: Văn bản pháp lý – hợp đồng

抑或 – hay là, hoặc là (văn viết)

A,抑或 (是) B

抑或 (ức hoặc) là liên từ lựa chọn của văn viết, dùng được cả trong câu hỏi lẫn câu trần thuật, tương đương 还是 / 或者. Hay gặp trong văn bản pháp lý và nghị luận để liệt kê các khả năng.

  • 无论是口头约定抑或书面协议,都应当诚信履行。

    Wúlùn shì kǒutóu yuēdìng yìhuò shūmiàn xiéyì, dōu yīngdāng chéngxìn lǚxíng.

    Dù là thỏa thuận miệng hay thỏa thuận bằng văn bản, đều phải thực hiện một cách trung thực.

  • 争议应通过仲裁抑或诉讼解决,合同中须明确约定。

    Zhēngyì yīng tōngguò zhòngcái yìhuò sùsòng jiějué, hétong zhōng xū míngquè yuēdìng.

    Tranh chấp giải quyết bằng trọng tài hay tố tụng, hợp đồng phải quy định rõ.

  • 这是疏忽,抑或是有意为之?

    Zhè shì shūhu, yìhuò shì yǒuyì wéi zhī?

    Đây là sơ suất, hay là cố ý làm vậy?

So với tiếng Việt

抑 đọc yì (thanh 4), không đọc yí. Trong thư từ, hội thoại thường ngày đừng dùng 抑或 – nghe rất “sách vở”; nói 还是 là đủ.

Trong bài: Văn bản pháp lý – hợp đồng

迄今 (为止) – cho đến nay

迄今 (为止) + diễn biến / kết quả ; 迄今 + 已 + khoảng thời gian

迄今 (hất kim) = “đến nay”, văn viết của 到现在. 迄今为止 nhấn mạnh mốc tính đến hiện tại, hay đi với 最, 已, 尚未 (vẫn chưa). Dùng nhiều trong tin tức, báo cáo.

  • 迄今为止,这是十年来最严重的一次通胀。

    Qìjīn wéizhǐ, zhè shì shí nián lái zuì yánzhòng de yī cì tōngzhàng.

    Tính đến nay, đây là đợt lạm phát nghiêm trọng nhất trong mười năm.

  • 该政策实施迄今已逾五年。

    Gāi zhèngcè shíshī qìjīn yǐ yú wǔ nián.

    Chính sách này thực thi đến nay đã hơn năm năm.

  • 迄今尚未有证据表明市场出现泡沫。

    Qìjīn shàng wèi yǒu zhèngjù biǎomíng shìchǎng chūxiàn pàomò.

    Đến nay vẫn chưa có bằng chứng cho thấy thị trường xuất hiện bong bóng.

So với tiếng Việt

迄 đọc qì (thanh 4), không đọc qǐ hay “khất”. Đừng viết 迄今以来; dùng 迄今为止 hoặc 有史以来.

Trong bài: Kinh tế vĩ mô – tài chính

动辄 – hơi một tí là, động một chút là

Chủ ngữ + 动辄 + động từ / số lượng lớn

动辄 (động triếp) chỉ việc rất dễ xảy ra, xảy ra thường xuyên, hoặc con số hay lên tới mức rất lớn; thường mang sắc thái phê phán hay ngạc nhiên. Văn viết; khẩu ngữ nói 动不动就.

  • 一些网红产品动辄上千元,价格明显虚高。

    Yīxiē wǎnghóng chǎnpǐn dòngzhé shàng qiān yuán, jiàgé míngxiǎn xūgāo.

    Một số sản phẩm “hot” trên mạng động một chút là lên tới cả nghìn tệ, giá rõ ràng bị đẩy cao.

  • 投资者不应动辄恐慌性抛售。

    Tóuzīzhě bù yīng dòngzhé kǒnghuāngxìng pāoshòu.

    Nhà đầu tư không nên hơi một tí là hoảng loạn bán tháo.

  • 大型基建项目动辄需要数十亿美元融资。

    Dàxíng jījiàn xiàngmù dòngzhé xūyào shù shí yì Měiyuán róngzī.

    Các dự án hạ tầng lớn thường cần huy động tới hàng chục tỷ đô la.

So với tiếng Việt

辄 đọc zhé. Nghĩa gần “hơi tí là” của tiếng Việt nhưng 动辄 còn dùng với con số lớn (动辄上亿) – lúc đó dịch “thường lên tới”, “dễ lên tới”.

Trong bài: Kinh tế vĩ mô – tài chính

不外乎 – không ngoài, chung quy là

Chủ đề + 不外乎 + (是) + liệt kê / nhóm hữu hạn

不外乎 (bất ngoại hồ) khoanh vùng: mọi khả năng đều nằm trong vài điều được nêu. Gần nghĩa 无非, nhưng 不外乎 thiên về liệt kê, phân loại (không ngoài mấy loại sau), sắc thái trung tính hơn.

  • 通胀的成因不外乎需求拉动和成本推动两类。

    Tōngzhàng de chéngyīn bùwàihū xūqiú lādòng hé chéngběn tuīdòng liǎng lèi.

    Nguyên nhân lạm phát không ngoài hai loại: do cầu kéo và do chi phí đẩy.

  • 央行的工具不外乎利率、存款准备金率和公开市场操作。

    Yāngháng de gōngjù bùwàihū lìlǜ, cúnkuǎn zhǔnbèijīnlǜ hé gōngkāi shìchǎng cāozuò.

    Công cụ của ngân hàng trung ương không ngoài lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở.

  • 人们存黄金,不外乎是为了保值。

    Rénmen cún huángjīn, bùwàihū shì wèile bǎozhí.

    Người ta tích trữ vàng, chung quy là để giữ giá trị tài sản.

So với tiếng Việt

Chữ 乎 ở đây là trợ từ văn ngôn (≈ 于), không mang nghĩa hỏi. Người Việt hay dịch thành “không phải ngoài…” – thừa chữ “phải”.

Trong bài: Kinh tế vĩ mô – tài chính

日益 / 日趋 – ngày càng, mỗi ngày một

Chủ ngữ + 日益 / 日趋 + tính từ / động từ hai âm tiết

日益 (nhật ích) và 日趋 (nhật xu) là cách nói văn viết của 越来越, chỉ sự biến đổi tăng dần theo thời gian. Theo sau thường là từ hai âm tiết: 日益严重, 日益增长, 日趋成熟, 日趋激烈. 日趋 nhấn mạnh “đang hướng tới” một trạng thái, hay đi với từ chỉ kết quả như 完善, 成熟, 稳定.

  • 随着利率上调,企业的债务负担日益沉重。

    Suízhe lìlǜ shàngtiáo, qǐyè de zhàiwù fùdān rìyì chénzhòng.

    Lãi suất tăng lên, gánh nặng nợ của doanh nghiệp ngày càng nặng.

  • 越南的金融市场日趋成熟。

    Yuènán de jīnróng shìchǎng rìqū chéngshú.

    Thị trường tài chính Việt Nam ngày càng trưởng thành.

  • 全球贸易竞争日益激烈,关税壁垒却在增加。

    Quánqiú màoyì jìngzhēng rìyì jīliè, guānshuì bìlěi què zài zēngjiā.

    Cạnh tranh thương mại toàn cầu ngày càng gay gắt, nhưng rào cản thuế quan lại đang tăng.

So với tiếng Việt

Không ghép 日益 với 越来越 (“日益越来越严重” là thừa), cũng không đặt 很 / 非常 sau 日益. Sau 日益 nên là từ hai âm tiết: “日益好” nghe cụt, nên nói 日益好转.

Trong bài: Kinh tế vĩ mô – tài chính

藉以 / 借以 – nhờ đó mà, để qua đó

Dùng phương tiện / biện pháp,藉以 + mục đích

藉以 (tạ dĩ) = “mượn cái đó để…”, nêu mục đích đạt được nhờ phương tiện ở vế trước. Hiện nay viết 借以 phổ biến hơn; 藉以 gặp trong văn bản trang trọng hoặc văn bản Đài Loan, Hồng Kông.

  • 公司公开部分源代码,藉以吸引更多开发者。

    Gōngsī gōngkāi bùfen yuándàimǎ, jièyǐ xīyǐn gèng duō kāifāzhě.

    Công ty công khai một phần mã nguồn, qua đó thu hút thêm nhà phát triển.

  • 研究团队建立了仿真模型,借以预测台风路径。

    Yánjiū tuánduì jiànlì le fǎngzhēn móxíng, jièyǐ yùcè táifēng lùjìng.

    Nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình mô phỏng để nhờ đó dự báo đường đi của bão.

  • 政府提供税收优惠,借以鼓励企业自主研发。

    Zhèngfǔ tígōng shuìshōu yōuhuì, jièyǐ gǔlì qǐyè zìzhǔ yánfā.

    Chính phủ ưu đãi thuế, qua đó khuyến khích doanh nghiệp tự nghiên cứu phát triển.

So với tiếng Việt

藉 có hai âm: jiè (mượn, = 借) và jí (狼藉 – bừa bãi). Trong 藉以 đọc jiè. Phân biệt với 以期: 以期 nêu điều mong đạt (chưa chắc), 借以 nhấn mạnh phương tiện được “mượn” để đạt mục đích.

Trong bài: Khoa học công nghệ mũi nhọn

以…见长 – nổi trội về…, sở trường là…

Chủ thể + 以 + điểm mạnh + 见长

以…见长 (dĩ… kiến trường) nêu thế mạnh nổi bật của người, tổ chức, sản phẩm. 见 ở đây là “tỏ ra, hiện ra”, 长 (cháng) là sở trường. Cùng kiểu: 以…著称 (nổi tiếng về…), 以…闻名.

  • 这所大学以人工智能研究见长。

    Zhè suǒ dàxué yǐ réngōng zhìnéng yánjiū jiàncháng.

    Trường đại học này nổi trội về nghiên cứu trí tuệ nhân tạo.

  • 越南工程师以软件外包见长,正向芯片设计拓展。

    Yuènán gōngchéngshī yǐ ruǎnjiàn wàibāo jiàncháng, zhèng xiàng xīnpiàn shèjì tuòzhǎn.

    Kỹ sư Việt Nam mạnh về gia công phần mềm, đang mở rộng sang thiết kế chip.

  • 这款手机不以性能见长,而以续航取胜。

    Zhè kuǎn shǒujī bù yǐ xìngnéng jiàncháng, ér yǐ xùháng qǔshèng.

    Chiếc điện thoại này không nổi trội về hiệu năng mà thắng thế nhờ thời lượng pin.

So với tiếng Việt

长 đọc cháng (sở trường), không đọc zhǎng. Người Việt hay viết “以…为见长” – thừa 为. Đúng: 以 + X + 见长.

Trong bài: Khoa học công nghệ mũi nhọn

但凡…便 / 就… – hễ mà…, phàm là… thì…

但凡 + điều kiện / phạm vi,(主语) + 便 / 就 / 都 + kết quả

但凡 (đãn phàm) có hai cách dùng: (1) “phàm là, hễ là” – mọi trường hợp trong phạm vi đều như nhau, thường đi với 都 / 便; (2) “chỉ cần có chút…” – giả định điều kiện tối thiểu, hay đi với 也 / 就 trong câu tiếc nuối.

  • 但凡涉及个人隐私的数据,便须经过加密处理。

    Dànfán shèjí gèrén yǐnsī de shùjù, biàn xū jīngguò jiāmì chǔlǐ.

    Phàm là dữ liệu liên quan đến quyền riêng tư cá nhân thì phải được mã hóa.

  • 但凡有一点儿办法,他也不会放弃这个项目。

    Dànfán yǒu yīdiǎnr bànfǎ, tā yě bù huì fàngqì zhège xiàngmù.

    Hễ còn chút cách nào thì anh ấy cũng đã không bỏ dự án này.

  • 但凡新技术,都会经历从怀疑到接受的过程。

    Dànfán xīn jìshù, dōu huì jīnglì cóng huáiyí dào jiēshòu de guòchéng.

    Phàm là công nghệ mới đều trải qua quá trình từ nghi ngờ đến chấp nhận.

So với tiếng Việt

但 ở đây không phải “nhưng”. Đừng dịch “但凡” thành “nhưng phàm”. Nhớ: 但凡 ≈ 凡是 (phàm là) / 只要 (hễ, chỉ cần).

Trong bài: Khoa học công nghệ mũi nhọn

一度 – đã có lúc, từng có một thời

Chủ ngữ + (曾) + 一度 + động từ / tính từ

一度 (nhất độ) làm trạng ngữ, nói một trạng thái từng xảy ra trong một khoảng thời gian ở quá khứ, nay đã thay đổi. Hay đi với 曾 (曾一度) và với các động từ chỉ biến động: 一度中断 (từng bị gián đoạn), 一度领先 (có lúc dẫn đầu), 一度陷入困境 (có thời rơi vào khó khăn).

  • 全球芯片短缺时,汽车生产线一度停工。

    Quánqiú xīnpiàn duǎnquē shí, qìchē shēngchǎnxiàn yīdù tínggōng.

    Khi thế giới thiếu chip, dây chuyền sản xuất ô tô đã có lúc phải ngừng.

  • 这家公司曾一度濒临破产,后来靠自主研发起死回生。

    Zhè jiā gōngsī céng yīdù bīnlín pòchǎn, hòulái kào zìzhǔ yánfā qǐ sǐ huí shēng.

    Công ty này từng có lúc bên bờ phá sản, về sau nhờ tự nghiên cứu phát triển mà hồi sinh.

  • 克隆技术一度引起全世界的恐慌。

    Kèlóng jìshù yīdù yǐnqǐ quán shìjiè de kǒnghuāng.

    Kỹ thuật nhân bản vô tính từng có thời gây hoang mang khắp thế giới.

So với tiếng Việt

一度 ở đây không phải “một độ” (nhiệt độ) hay “một lần” như 一次. Nó ngầm nói trạng thái đó đã qua; nếu việc vẫn đang tiếp diễn thì dùng 一直. Tiếng Việt tương đương “đã có lúc”, “từng có thời”.

Trong bài: Khoa học công nghệ mũi nhọn

未尝 / 未尝不 – chưa từng / không phải là không

未尝 + động từ (= 不曾) ; 未尝不 + động từ / tính từ (phủ định kép, nói giảm)

未尝 (vị thường) là văn ngôn: “chưa từng”. 未尝不 là phủ định kép, khẳng định nhẹ nhàng, khéo léo: “cũng không phải là không…, cũng có thể…”. Trong văn nghị luận, 未尝不是一种… rất hay dùng để đưa ra quan điểm mềm mỏng.

  • 他一生未尝离开故乡,却写尽了天下山水。

    Tā yīshēng wèicháng líkāi gùxiāng, què xiějìn le tiānxià shānshuǐ.

    Cả đời ông chưa từng rời quê, vậy mà viết hết non sông thiên hạ.

  • 读不懂古诗,未尝不可以先读译文。

    Dú bù dǒng gǔshī, wèicháng bù kěyǐ xiān dú yìwén.

    Đọc không hiểu thơ cổ thì cũng chẳng phải không thể đọc bản dịch trước.

  • 失败未尝不是一种收获。

    Shībài wèicháng bù shì yī zhǒng shōuhuò.

    Thất bại cũng chưa hẳn không phải là một điều thu hoạch.

So với tiếng Việt

尝 ở đây là “từng” (như 尝试 = thử), không phải “nếm”. Hán Việt “vị thường” dễ khiến người Việt hiểu nhầm thành “không bình thường”. Với 未尝不, dịch là “cũng chưa hẳn là không”, “không phải là không”.

Trong bài: Văn học cổ điển: Đường thi, Tống từ

何以 – vì sao, lấy gì mà (văn ngôn)

何以 + động từ / tính từ ? ; 何以见得?

何以 (hà dĩ) = 为什么 hoặc 凭什么 / 用什么, dùng trong câu hỏi trang trọng hoặc câu hỏi tu từ. Cụm cố định 何以见得 = “dựa vào đâu mà thấy vậy?”. Trong tiêu đề, bài luận: 何以… thể hiện câu hỏi mang tính suy ngẫm.

  • 这首小诗何以流传千年?

    Zhè shǒu xiǎo shī héyǐ liúchuán qiān nián?

    Bài thơ nhỏ này vì sao lưu truyền được nghìn năm?

  • 你说这首词是苏轼写的,何以见得?

    Nǐ shuō zhè shǒu cí shì Sū Shì xiě de, héyǐ jiàn de?

    Anh nói bài từ này do Tô Thức viết, dựa vào đâu mà thấy vậy?

  • 不读原文,何以体会古诗的韵味?

    Bù dú yuánwén, héyǐ tǐhuì gǔshī de yùnwèi?

    Không đọc nguyên văn thì lấy gì mà cảm được cái vị của thơ cổ?

So với tiếng Việt

Tiếng Việt có “hà cớ”, “cớ sao”: 何以 gần như vậy. Đừng nhầm 何以 với 可以 (kěyǐ). Trong hội thoại thường ngày dùng 为什么; 何以 chỉ dùng trong văn viết hoặc khi muốn trang trọng, văn hoa.

Trong bài: Văn học cổ điển: Đường thi, Tống từ

何其 – sao mà… đến thế, biết bao

(Chủ ngữ) + 何其 + tính từ (hai âm tiết)!

何其 (hà kỳ) là phó từ cảm thán văn ngôn, tương đương 多么, dùng để bày tỏ cảm xúc mạnh: khen ngợi, xót xa hoặc chê trách. Câu thường kết thúc bằng dấu chấm than; hay gặp 何其相似 (giống nhau biết bao), 何其不幸, 何其难得. Đôi khi dùng trong câu hỏi tu từ.

  • 一个“绿”字写尽了春色,何其传神!

    Yī gè “lǜ” zì xiějìn le chūnsè, héqí chuánshén!

    Một chữ “xanh” tả hết sắc xuân, sống động biết bao!

  • 李白与阮攸相隔千年,思乡的情怀却何其相似。

    Lǐ Bái yǔ Ruǎn Yōu xiānggé qiān nián, sīxiāng de qínghuái què héqí xiāngsì.

    Lý Bạch và Nguyễn Du cách nhau nghìn năm, mà nỗi lòng nhớ quê sao mà giống nhau đến thế.

  • 能读懂古诗的原文,是何其幸运的事!

    Néng dúdǒng gǔshī de yuánwén, shì héqí xìngyùn de shì!

    Đọc hiểu được thơ cổ bằng nguyên văn, thật là điều may mắn biết bao!

So với tiếng Việt

何其 không phải câu hỏi “cái gì” (何 = gì). Tiếng Việt tương đương “biết bao”, “sao mà… thế”. Không dùng 何其 trong lời nói hằng ngày; khẩu ngữ nói 多么 hoặc 太…了.

Trong bài: Văn học cổ điển: Đường thi, Tống từ

莫不 – không ai không, đều

Chủ ngữ (số nhiều) + 莫不 + động từ / tính từ

莫不 (mạc bất) là phủ định kép văn ngôn: 莫 = “không ai, không cái gì”, 莫不 = “không ai là không” → tất cả đều. Thường đi với 为之 trong 莫不为之感动 (ai nấy đều cảm động).

  • 读过这首诗的人,莫不为之动容。

    Dúguo zhè shǒu shī de rén, mò bù wèi zhī dòngróng.

    Ai đã đọc bài thơ này đều xúc động.

  • 唐代诗人莫不重视炼字。

    Tángdài shīrén mò bù zhòngshì liànzì.

    Các nhà thơ đời Đường ai cũng coi trọng việc luyện chữ.

  • 古往今来的名篇,莫不情景交融。

    Gǔ wǎng jīn lái de míngpiān, mò bù qíng jǐng jiāo róng.

    Danh tác xưa nay không bài nào không hòa quyện tình cảnh.

So với tiếng Việt

莫 trong văn ngôn không phải “đừng” (莫 = 不要 chỉ dùng trong câu cầu khiến như 莫忘). Trong 莫不, nó là đại từ phủ định “không ai”. 莫不 = 无不 = 都.

Trong bài: Văn học cổ điển: Đường thi, Tống từ

毋庸 – không cần, khỏi phải

毋庸 + động từ hai âm tiết (置疑 / 讳言 / 赘述 / 多言)

毋庸 (vô dung) = 无须 / 不必, chỉ dùng trong văn viết trang trọng và chủ yếu trong các cụm cố định: 毋庸置疑 (không còn nghi ngờ gì), 毋庸讳言 (không cần giấu giếm, phải thừa nhận rằng), 毋庸赘述 (khỏi nói dài dòng).

  • 毋庸置疑,和平是两国人民的共同愿望。

    Wúyōng zhìyí, hépíng shì liǎng guó rénmín de gòngtóng yuànwàng.

    Không còn nghi ngờ gì, hòa bình là mong muốn chung của nhân dân hai nước.

  • 毋庸讳言,双方在某些问题上仍有分歧。

    Wúyōng huìyán, shuāngfāng zài mǒuxiē wèntí shàng réng yǒu fēnqí.

    Phải thẳng thắn thừa nhận, hai bên vẫn còn bất đồng ở một số vấn đề.

  • 会谈的背景众所周知,在此毋庸赘述。

    Huìtán de bèijǐng zhòng suǒ zhōu zhī, zài cǐ wúyōng zhuìshù.

    Bối cảnh cuộc hội đàm ai cũng biết, ở đây xin không nói dài.

So với tiếng Việt

毋 (wú) khác 母 (mǔ, mẹ): 毋 có một nét xiên xuyên qua, không có hai chấm. 毋庸置疑 hay bị viết sai thành 无庸质疑 – nhớ 置疑 (đặt nghi vấn), không phải 质疑 (chất vấn).

Trong bài: Ngoại giao – quan hệ quốc tế

诚然…,然而 / 但是… – quả thật là…, nhưng…

诚然 + thừa nhận một mặt,然而 / 但 + luận điểm chính

诚然 (thành nhiên) = “quả thật, đúng là”, dùng để thừa nhận ý của phía khác hoặc một mặt của vấn đề, rồi chuyển sang ý chính bằng 然而 / 但 / 可是. Đây là kỹ thuật nhượng bộ – phản bác điển hình của văn nghị luận và phát biểu ngoại giao.

  • 诚然,两国存在分歧;然而,共同利益远大于分歧。

    Chéngrán, liǎng guó cúnzài fēnqí; rán'ér, gòngtóng lìyì yuǎn dàyú fēnqí.

    Quả thật hai nước có bất đồng; tuy nhiên, lợi ích chung lớn hơn bất đồng rất nhiều.

  • 制裁诚然能施加压力,但未必能解决问题。

    Zhìcái chéngrán néng shījiā yālì, dàn wèibì néng jiějué wèntí.

    Trừng phạt đúng là có thể gây sức ép, nhưng chưa chắc giải quyết được vấn đề.

  • 诚然,小国实力有限,然而它们在多边舞台上同样能发挥作用。

    Chéngrán, xiǎoguó shílì yǒuxiàn, rán'ér tāmen zài duōbiān wǔtái shàng tóngyàng néng fāhuī zuòyòng.

    Đành rằng nước nhỏ thực lực có hạn, nhưng trên diễn đàn đa phương họ vẫn có thể phát huy vai trò.

So với tiếng Việt

Người Việt hay dịch 诚然 là “thành thật mà nói” – sai. Nghĩa đúng là “quả là, đành rằng”. Đừng bỏ vế chuyển ý: chỉ viết 诚然… mà không có 然而 / 但 thì câu thiếu lực.

Trong bài: Ngoại giao – quan hệ quốc tế

本着…(的原则 / 精神) – trên tinh thần…, theo nguyên tắc…

本着 + 原则 / 精神 / 态度 / 宗旨,(chủ ngữ) + hành động

本着 (bản trước) = “dựa theo, xuất phát từ” một nguyên tắc, tinh thần hay thái độ để hành động. Tân ngữ của 本着 luôn là danh từ trừu tượng như 原则, 精神, 态度, 宗旨, 方针. Đây là cụm cửa miệng của văn kiện ngoại giao và hợp đồng: 本着平等互利的原则 (trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi).

  • 双方本着相互尊重的原则,就海上问题进行了磋商。

    Shuāngfāng běnzhe xiānghù zūnzhòng de yuánzé, jiù hǎishàng wèntí jìnxíng le cuōshāng.

    Trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, hai bên đã tham vấn về các vấn đề trên biển.

  • 本着求同存异的精神,两国签署了合作协定。

    Běnzhe qiú tóng cún yì de jīngshén, liǎng guó qiānshǔ le hézuò xiédìng.

    Trên tinh thần tìm điểm chung, gác khác biệt, hai nước đã ký hiệp định hợp tác.

  • 我们本着对历史负责的态度处理这一问题。

    Wǒmen běnzhe duì lìshǐ fùzé de tàidu chǔlǐ zhè yī wèntí.

    Chúng tôi xử lý vấn đề này với thái độ có trách nhiệm trước lịch sử.

So với tiếng Việt

着 ở đây đọc zhe (thanh nhẹ), không đọc zháo hay zhuó. Tiếng Việt hay dịch là “trên tinh thần…”, “trên nguyên tắc…”. Sau 本着 phải là danh từ trừu tượng; “本着两国” là sai.

Trong bài: Ngoại giao – quan hệ quốc tế

旨在 – nhằm, có mục đích

Hành động / văn bản + 旨在 + mục đích

旨在 (chỉ tại) = “mục đích là, nhằm”, nêu mục đích của chính sách, sáng kiến, văn bản. Khác với 以期 (đứng ở vế sau, nêu kỳ vọng), 旨在 làm vị ngữ trực tiếp sau chủ ngữ, rất hay xuất hiện trong thông cáo báo chí.

  • 此次访问旨在深化两国全面战略合作。

    Cǐ cì fǎngwèn zhǐzài shēnhuà liǎng guó quánmiàn zhànlüè hézuò.

    Chuyến thăm lần này nhằm làm sâu sắc hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

  • 该倡议旨在促进地区互联互通。

    Gāi chàngyì zhǐzài cùjìn dìqū hùlián hùtōng.

    Sáng kiến này nhằm thúc đẩy kết nối liên thông khu vực.

  • 新签证政策旨在吸引更多外国游客。

    Xīn qiānzhèng zhèngcè zhǐzài xīyǐn gèng duō wàiguó yóukè.

    Chính sách thị thực mới nhằm thu hút thêm du khách nước ngoài.

So với tiếng Việt

旨 là “ý chỉ, mục đích” (圣旨 = thánh chỉ, 宗旨 = tôn chỉ). Đừng viết 指在 (chỉ – ngón tay). Tiếng Việt hay mở đầu “Nhằm…, …” nhưng tiếng Trung đặt 旨在 sau chủ ngữ.

Trong bài: Ngoại giao – quan hệ quốc tế

所在 – chỗ, nơi (cốt lõi) nằm ở

Danh từ (问题 / 原因 / 关键 / 意义 / 价值) + 所在 ; …是 + X + 所在

所在 (sở tại) đi sau danh từ trừu tượng để chỉ “chính là nơi, chính là chỗ” của điều đó: 问题所在 (mấu chốt của vấn đề), 意义所在 (ý nghĩa nằm ở đó), 职责所在 (trách nhiệm phải làm). Thường làm tân ngữ của 是 hoặc 找到 / 明白.

  • 样本过小,正是这项研究的问题所在。

    Yàngběn guò xiǎo, zhèng shì zhè xiàng yánjiū de wèntí suǒzài.

    Mẫu quá nhỏ chính là chỗ có vấn đề của nghiên cứu này.

  • 填补国内研究空白,是本课题的价值所在。

    Tiánbǔ guónèi yánjiū kòngbái, shì běn kètí de jiàzhí suǒzài.

    Lấp khoảng trống nghiên cứu trong nước chính là giá trị của đề tài này.

  • 严格审稿是编辑的职责所在。

    Yángé shěngǎo shì biānjí de zhízé suǒzài.

    Thẩm định bài nghiêm ngặt là trách nhiệm của biên tập viên.

So với tiếng Việt

Tiếng Việt “sở tại” chỉ nơi chốn (chính quyền sở tại), còn 所在 ở đây là “chỗ cốt lõi”. Dịch 问题所在 thành “vấn đề sở tại” là sai; dịch “mấu chốt nằm ở đây”, “chính là chỗ có vấn đề”.

Trong bài: Nghiên cứu khoa học – viết luận văn

不失为 – vẫn có thể coi là, cũng là (một …)

A + 不失为 + 一种 / 一个 + đánh giá tích cực

不失为 (bất thất vi) = “không mất đi tư cách là” → vẫn có thể xem là một lựa chọn, một cách làm khá tốt, dù chưa hoàn hảo. Sắc thái đánh giá khiêm tốn, chừng mực, rất hợp văn học thuật.

  • 在数据有限的情况下,个案研究不失为一种有效的方法。

    Zài shùjù yǒuxiàn de qíngkuàng xià, gè'àn yánjiū bùshīwéi yī zhǒng yǒuxiào de fāngfǎ.

    Trong điều kiện dữ liệu hạn chế, nghiên cứu trường hợp vẫn có thể coi là một phương pháp hiệu quả.

  • 这篇论文虽有不足,却不失为一篇佳作。

    Zhè piān lùnwén suī yǒu bùzú, què bùshīwéi yī piān jiāzuò.

    Luận văn này tuy có thiếu sót nhưng vẫn là một bài viết hay.

  • 先发表会议论文,再投期刊,不失为一个稳妥的策略。

    Xiān fābiǎo huìyì lùnwén, zài tóu qīkān, bùshīwéi yī gè wěntuǒ de cèlüè.

    Đăng bài hội thảo trước rồi mới gửi tạp chí cũng là một chiến lược chắc chắn.

So với tiếng Việt

失 ở đây không phải “thất bại” mà là “mất”. Không dùng 不失为 với nghĩa xấu (“不失为一个坏办法” là sai). 为 đọc wéi.

Trong bài: Nghiên cứu khoa học – viết luận văn

若非…,何以 / 岂能… – nếu không phải…, thì làm sao…

若非 + điều kiện (có thật),(chủ ngữ) + 何以 / 岂能 / 怎能 + kết quả

若非 (nhược phi) = 如果不是, nêu giả định ngược với sự thật; vế sau dùng câu hỏi tu từ 何以 / 岂能 để khẳng định điều kiện đó là then chốt. Ví dụ: “Nếu không có thầy giúp thì làm sao tôi xong luận văn?” = nhờ thầy mà xong.

  • 若非导师悉心指导,我何以按时完成论文?

    Ruòfēi dǎoshī xīxīn zhǐdǎo, wǒ héyǐ ànshí wánchéng lùnwén?

    Nếu không có thầy hướng dẫn tận tình, làm sao tôi hoàn thành luận văn đúng hạn?

  • 若非长期积累,岂能写出如此扎实的综述?

    Ruòfēi chángqī jīlěi, qǐ néng xiěchū rúcǐ zhāshi de zōngshù?

    Nếu không tích lũy lâu dài, sao viết được bản tổng quan chắc tay như vậy?

  • 若非数据造假,结论何以与常识相差如此之远?

    Ruòfēi shùjù zàojiǎ, jiélùn héyǐ yǔ chángshí xiāngchà rúcǐ zhī yuǎn?

    Nếu không phải số liệu bị làm giả, sao kết luận lại khác xa lẽ thường đến vậy?

So với tiếng Việt

若非 không phải “nhược điểm”. Vế sau là câu hỏi tu từ nhưng nghĩa là khẳng định; khi dịch sang tiếng Việt có thể chuyển thành câu khẳng định: “Nhờ thầy tận tình hướng dẫn, tôi mới hoàn thành đúng hạn.”

Trong bài: Nghiên cứu khoa học – viết luận văn

无从 – không có cách nào để, không biết bắt đầu từ đâu

Chủ ngữ + 无从 + động từ hai âm tiết (考证 / 下手 / 得知 / 判断)

无从 (vô tòng) = “không có đường nào, không có căn cứ nào để…”, nói việc không thể làm vì thiếu điều kiện, thiếu manh mối. Hay gặp: 无从下手 (không biết bắt tay từ đâu), 无从考证 (không có cách nào khảo chứng), 无从得知 (không thể biết được), 无从判断.

  • 原始数据已经丢失,这一结论现在无从验证。

    Yuánshǐ shùjù yǐjīng diūshī, zhè yī jiélùn xiànzài wúcóng yànzhèng.

    Số liệu gốc đã mất, kết luận này giờ không có cách nào kiểm chứng.

  • 题目太大,很多研究生一开始无从下手。

    Tímù tài dà, hěn duō yánjiūshēng yī kāishǐ wúcóng xiàshǒu.

    Đề tài quá rộng, nhiều học viên lúc đầu không biết bắt tay từ đâu.

  • 这首诗的作者是谁,如今已无从考证。

    Zhè shǒu shī de zuòzhě shì shéi, rújīn yǐ wúcóng kǎozhèng.

    Tác giả bài thơ này là ai, nay đã không còn cách nào khảo chứng.

So với tiếng Việt

从 ở đây là “từ đâu, theo đường nào”, không phải “đi theo” (tòng quân). 无从 + động từ, không + danh từ: “无从证据” sai, phải là 无从证明. Khác 无法 (không thể nói chung): 无从 nhấn mạnh thiếu manh mối, không có điểm xuất phát.

Trong bài: Nghiên cứu khoa học – viết luận văn

不容 – không thể, không cho phép (văn viết)

Chủ ngữ + 不容 + động từ hai âm tiết (忽视 / 乐观 / 置疑 / 拖延)

不容 (bất dung) = “không cho phép, không thể để”, dùng trong văn nghị luận, báo chí để nhấn mạnh tính nghiêm trọng hoặc tính chắc chắn của vấn đề. Các cụm hay gặp: 不容忽视 (không thể xem nhẹ), 不容乐观 (không thể lạc quan), 不容置疑 (không thể nghi ngờ), 刻不容缓 (không thể chậm trễ giây phút nào).

  • 人口老化带来的养老金压力不容忽视。

    Rénkǒu lǎohuà dàilái de yǎnglǎojīn yālì bùróng hūshì.

    Áp lực lương hưu do già hóa dân số mang lại là không thể xem nhẹ.

  • 农村留守儿童的教育问题不容乐观。

    Nóngcūn liúshǒu értóng de jiàoyù wèntí bùróng lèguān.

    Vấn đề giáo dục của trẻ em ở lại quê ở nông thôn không mấy khả quan.

  • 完善社会保障体系已刻不容缓。

    Wánshàn shèhuì bǎozhàng tǐxì yǐ kè bù róng huǎn.

    Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đã không thể chậm trễ.

So với tiếng Việt

容 ở đây là “dung, cho phép” (dung thứ), không phải “dung mạo”. 不容乐观 không có nghĩa “không được lạc quan” theo kiểu cấm đoán, mà là “tình hình xấu, khó lạc quan” – dịch sang tiếng Việt là “không mấy khả quan”.

Trong bài: Xã hội học – dân số

不乏 – không thiếu, có không ít

Phạm vi / tập hợp + 中 + 不乏 + danh từ (người / ví dụ)

不乏 (bất phạp) = “không thiếu”, dùng để nói trong một tập hợp có khá nhiều trường hợp như thế. Văn viết, trung tính; hay gặp 不乏其人 (không thiếu người như vậy), 不乏先例 (không thiếu tiền lệ).

  • 外出务工人员中不乏大学毕业生。

    Wàichū wùgōng rényuán zhōng bùfá dàxué bìyèshēng.

    Trong số người đi làm ăn xa có không ít sinh viên đã tốt nghiệp.

  • 延迟退休在国际上不乏先例。

    Yánchí tuìxiū zài guójì shàng bùfá xiānlì.

    Tăng tuổi nghỉ hưu trên thế giới không thiếu tiền lệ.

  • 主动选择不婚的年轻人,如今不乏其人。

    Zhǔdòng xuǎnzé bù hūn de niánqīngrén, rújīn bùfá qí rén.

    Người trẻ chủ động chọn không kết hôn, ngày nay không hiếm.

So với tiếng Việt

乏 là “thiếu” (疲乏 – mệt mỏi, 缺乏 – thiếu). Đừng nhầm 不乏 với 不法 (bất pháp, phạm pháp) – cùng âm bùfǎ/bùfá dễ nghe nhầm.

Trong bài: Xã hội học – dân số

有所 – có phần, ít nhiều (+ động từ)

Chủ ngữ + 有所 + động từ hai âm tiết (提高 / 下降 / 改善 / 增加 / 不同)

有所 (hữu sở) đứng trước động từ hai âm tiết, chỉ sự thay đổi ở mức độ nhất định, không lớn: “có phần, ít nhiều”. Đây là cách nói chừng mực, khách quan của báo cáo và văn bản chính sách, tránh khẳng định quá mạnh. 有所不同 = có phần khác nhau.

  • 近几年,越南大城市的生育率有所下降。

    Jìn jǐ nián, Yuènán dà chéngshì de shēngyùlǜ yǒusuǒ xiàjiàng.

    Mấy năm gần đây, mức sinh ở các thành phố lớn của Việt Nam có phần giảm xuống.

  • 农村老人的生活条件虽有所改善,但仍缺少照顾。

    Nóngcūn lǎorén de shēnghuó tiáojiàn suī yǒusuǒ gǎishàn, dàn réng quēshǎo zhàogù.

    Điều kiện sống của người già nông thôn tuy đã cải thiện phần nào nhưng vẫn thiếu người chăm sóc.

  • 南北两地的婚姻观念有所不同。

    Nán běi liǎng dì de hūnyīn guānniàn yǒusuǒ bùtóng.

    Quan niệm hôn nhân ở hai miền Nam Bắc có phần khác nhau.

So với tiếng Việt

所 ở đây không phải “nơi chốn”. Sau 有所 không thêm 了 hay bổ ngữ số lượng: “有所提高了20%” là sai; muốn nói con số thì dùng 提高了20%. Tiếng Việt tương đương “có phần”, “phần nào”.

Trong bài: Xã hội học – dân số

无异于 – chẳng khác gì, không khác gì

A (hành động / tình trạng) + 无异于 + B (hệ quả nghiêm trọng hơn)

无异于 (vô dị ư) = “không khác gì”, dùng để đánh giá một việc bằng cách đặt nó ngang với một việc khác rõ ràng hơn, thường mang tính cảnh báo hoặc phê phán. Vế B thường là cụm động từ có hình ảnh mạnh: 无异于饮鸩止渴 (chẳng khác gì uống thuốc độc giải khát), 无异于自断后路.

  • 只靠子女养老,无异于把风险全部压在一代人身上。

    Zhǐ kào zǐnǚ yǎnglǎo, wúyìyú bǎ fēngxiǎn quánbù yā zài yī dài rén shēnshang.

    Chỉ trông vào con cái để dưỡng già chẳng khác gì dồn toàn bộ rủi ro lên vai một thế hệ.

  • 对农民工子女的教育不管不问,无异于放弃了下一代。

    Duì nóngmíngōng zǐnǚ de jiàoyù bù guǎn bù wèn, wúyìyú fàngqì le xià yī dài.

    Bỏ mặc việc học của con em lao động nhập cư chẳng khác gì từ bỏ thế hệ sau.

  • 用透支未来的办法解决养老问题,无异于饮鸩止渴。

    Yòng tòuzhī wèilái de bànfǎ jiějué yǎnglǎo wèntí, wúyìyú yǐn zhèn zhǐ kě.

    Dùng cách vay mượn tương lai để giải quyết chuyện dưỡng già chẳng khác gì uống thuốc độc giải khát.

So với tiếng Việt

异 là “khác” (dị biệt), 于 là “so với”: 无异于 = không khác so với. Đừng nhầm với 无疑 (wúyí – chắc chắn, không nghi ngờ) vì đọc gần giống. Sau 无异于 không thêm 是.

Trong bài: Xã hội học – dân số

殊不知 – nào ngờ, có biết đâu rằng

Nhận thức / hành động sai của ai đó,殊不知 + sự thật ngược lại

殊不知 (thù bất tri) = “nào có biết rằng”, dùng để chỉ ra sự thật mà người khác (hoặc chính mình trước đây) không nhận ra, thường trái với điều họ tưởng. Sắc thái nhắc nhở, phê phán nhẹ; rất hợp mở đầu luận điểm trong bài diễn thuyết hay xã luận.

  • 很多人随手转发传闻,殊不知自己已成了谣言的帮凶。

    Hěn duō rén suíshǒu zhuǎnfā chuánwén, shūbùzhī zìjǐ yǐ chéng le yáoyán de bāngxiōng.

    Nhiều người tiện tay chia sẻ tin đồn, nào ngờ chính mình đã thành kẻ tiếp tay cho tin đồn.

  • 有人以为删帖就没事了,殊不知截图早已传遍全网。

    Yǒu rén yǐwéi shān tiě jiù méi shì le, shūbùzhī jiétú zǎo yǐ chuánbiàn quán wǎng.

    Có người tưởng xóa bài là xong, có biết đâu ảnh chụp màn hình đã lan khắp mạng từ lâu.

  • 他以为演讲靠的是口才,殊不知真正打动人的是真诚。

    Tā yǐwéi yǎnjiǎng kào de shì kǒucái, shūbùzhī zhēnzhèng dǎdòng rén de shì zhēnchéng.

    Anh ấy tưởng diễn thuyết dựa vào tài ăn nói, nào ngờ điều thật sự làm người ta xúc động là sự chân thành.

So với tiếng Việt

殊 ở đây là “rất, thật” (văn ngôn), không phải “đặc thù”. Vế trước thường có 以为 / 认为 (tưởng rằng) để tạo đối lập. Tiếng Việt tương đương “nào ngờ”, “có biết đâu”.

Trong bài: Truyền thông – diễn thuyết

一味 – cứ một mực, chỉ biết (mà không xét đến cái khác)

Chủ ngữ + 一味 (地) + động từ

一味 (nhất vị) là phó từ: “cứ khư khư, một mực” làm một việc mà không cân nhắc hoàn cảnh hay hậu quả. Luôn mang sắc thái phê phán: 一味追求流量 (chỉ biết chạy theo lượt xem), 一味迁就 (một mực chiều theo), 一味指责.

  • 媒体如果一味追求点击率,公信力迟早会丧失。

    Méitǐ rúguǒ yīwèi zhuīqiú diǎnjīlǜ, gōngxìnlì chízǎo huì sàngshī.

    Báo chí nếu cứ một mực chạy theo lượt nhấp thì sớm muộn sẽ mất uy tín.

  • 演讲不能一味煽情,还要有事实和逻辑。

    Yǎnjiǎng bù néng yīwèi shānqíng, hái yào yǒu shìshí hé luójí.

    Diễn thuyết không thể chỉ biết khơi gợi cảm xúc, còn phải có sự thật và logic.

  • 面对传闻,一味沉默并不能解决问题。

    Miànduì chuánwén, yīwèi chénmò bìng bù néng jiějué wèntí.

    Trước tin đồn, cứ im lặng mãi không giải quyết được vấn đề.

So với tiếng Việt

一味 không phải “một vị” (thuốc, món ăn). Nghĩa luôn là chê; muốn nói “luôn luôn” trung tính thì dùng 一直 / 始终. Tiếng Việt tương đương “cứ một mực”, “chỉ biết”.

Trong bài: Truyền thông – diễn thuyết

不亚于 – không kém gì, chẳng thua

A + 不亚于 + B (đối tượng chuẩn để so sánh)

不亚于 (bất á ư) = “không đứng sau, không kém”, so sánh để khẳng định A ngang bằng hoặc hơn B – một đối tượng vốn được coi là rất mạnh, rất nghiêm trọng. Văn viết; khẩu ngữ nói 不比…差 / 一点儿也不比…少.

  • 一条谣言造成的伤害,不亚于一次真正的事故。

    Yī tiáo yáoyán zàochéng de shānghài, bù yà yú yī cì zhēnzhèng de shìgù.

    Tổn hại do một tin đồn gây ra không kém gì một tai nạn thật.

  • 如今自媒体的影响力,已经不亚于传统报纸。

    Rújīn zìméitǐ de yǐngxiǎnglì, yǐjīng bù yà yú chuántǒng bàozhǐ.

    Ngày nay sức ảnh hưởng của truyền thông cá nhân đã không thua gì báo giấy truyền thống.

  • 她的即兴演说,精彩程度不亚于事先准备的稿子。

    Tā de jíxìng yǎnshuō, jīngcǎi chéngdù bù yà yú shìxiān zhǔnbèi de gǎozi.

    Bài diễn thuyết ứng khẩu của chị ấy hay chẳng kém bài đã chuẩn bị sẵn.

So với tiếng Việt

亚 ở đây là “đứng thứ hai, kém hơn” (亚军 = á quân), không phải “châu Á”. Vế B phải là đối tượng chuẩn mạnh hơn hoặc nổi tiếng hơn; đảo A và B sẽ sai ý.

Trong bài: Truyền thông – diễn thuyết

足以 – đủ để

Chủ ngữ + 足以 + động từ / cụm động từ

足以 (túc dĩ) = “đủ để”, khẳng định mức độ đã đủ gây ra kết quả. Phủ định: 不足以 (không đủ để). Gặp nhiều trong cụm 不足以服众 (không đủ để thuyết phục mọi người), 足以说明 (đủ cho thấy).

  • 一条谣言足以毁掉一个人的名誉。

    Yī tiáo yáoyán zúyǐ huǐdiào yī gè rén de míngyù.

    Một tin đồn đủ để hủy hoại danh dự của một người.

  • 这些数据足以说明问题的严重性。

    Zhèxiē shùjù zúyǐ shuōmíng wèntí de yánzhòngxìng.

    Những số liệu này đủ cho thấy mức nghiêm trọng của vấn đề.

  • 仅凭一段视频,不足以判断事情的真相。

    Jǐn píng yī duàn shìpín, bù zúyǐ pànduàn shìqing de zhēnxiàng.

    Chỉ dựa vào một đoạn video thì không đủ để phán đoán sự thật.

So với tiếng Việt

足 ở đây là “đủ” (满足, 充足), không phải “chân”. 足以 + động từ, không + danh từ: “足以证据” sai, phải là 足以证明.

Trong bài: Truyền thông – diễn thuyết

A 之于 B – A đối với B

A + 之于 + B,(犹如 / 就像 + C 之于 D) ; A 之于 B + 的 + 意义 / 影响

之于 (chi ư) = “đối với”, văn ngôn, dùng để nêu mối quan hệ, vai trò của A đối với B; thường dùng trong phép so sánh song song: “A đối với B cũng như C đối với D”. Rất hay gặp ở đầu bài luận và diễn văn.

  • 汉字之于越南文化,犹如拉丁文之于欧洲文化。

    Hànzì zhī yú Yuènán wénhuà, yóurú Lādīngwén zhī yú Ōuzhōu wénhuà.

    Chữ Hán đối với văn hóa Việt Nam cũng như tiếng La-tinh đối với văn hóa châu Âu.

  • 族谱之于一个家族,是记忆,也是认同。

    Zúpǔ zhī yú yī gè jiāzú, shì jìyì, yě shì rèntóng.

    Gia phả đối với một dòng họ vừa là ký ức, vừa là bản sắc.

  • 了解汉越词之于学习中文的意义,怎么强调都不为过。

    Liǎojiě Hàn-Yuè cí zhī yú xuéxí Zhōngwén de yìyì, zěnme qiángdiào dōu bù wéi guò.

    Ý nghĩa của việc hiểu từ Hán Việt đối với việc học tiếng Trung, nhấn mạnh bao nhiêu cũng không thừa.

So với tiếng Việt

Không đảo thành 于之. Tiếng Việt có “chi” trong “thiên chi kiêu tử” nhưng không có cấu trúc này; dịch là “đối với… thì…”, “… đối với… cũng như…”.

Trong bài: Văn hóa Trung Hoa trong văn hóa Việt Nam

有别于 – khác với, không giống

A + 有别于 + B ; A 与 B 有别

有别于 (hữu biệt ư) = “có chỗ khác với”, văn viết của 跟…不一样. Dùng để nêu nét riêng của A khi so với một đối tượng quen thuộc B; thường đi kèm phần giải thích khác ở chỗ nào. Dạng rút gọn: A 与 B 有别 (A và B có khác biệt).

  • 越南的方形粽子有别于中国的三角粽。

    Yuènán de fāngxíng zòngzi yǒubié yú Zhōngguó de sānjiǎo zòng.

    Bánh chưng vuông của Việt Nam khác với bánh ú hình tam giác của Trung Quốc.

  • 喃字虽借用汉字的部件,却有别于汉字,记录的是越南语。

    Nánzì suī jièyòng Hànzì de bùjiàn, què yǒubié yú Hànzì, jìlù de shì Yuènányǔ.

    Chữ Nôm tuy mượn bộ phận của chữ Hán nhưng khác chữ Hán, ghi lại tiếng Việt.

  • 许多汉越词的意义与现代汉语有别,学习时要特别留意。

    Xǔduō Hàn-Yuè cí de yìyì yǔ xiàndài Hànyǔ yǒubié, xuéxí shí yào tèbié liúyì.

    Nghĩa của nhiều từ Hán Việt khác với tiếng Hán hiện đại, khi học phải đặc biệt lưu ý.

So với tiếng Việt

Hán Việt “hữu biệt” rất dễ nhớ: có (有) khác biệt (别). Không thêm 不同 phía sau (“有别于…不同” là thừa). 于 đánh dấu đối tượng so sánh, nên B đứng ngay sau 有别于.

Trong bài: Văn hóa Trung Hoa trong văn hóa Việt Nam

不尽 / 不尽然 – không hoàn toàn, chưa hẳn

不尽 + 相同 / 一致 / 合理 ; (Nhận định) + 不尽然 / 未必尽然

不尽 (bất tận) ở đây là “không hoàn toàn”, phủ định một phần chứ không phủ định toàn bộ. 不尽然 (= 不完全是这样) dùng độc lập ở cuối câu để phản bác nhẹ một nhận định phổ biến. Đây là cách tranh luận lịch sự trong văn học thuật.

  • 越南和中国的春节习俗不尽相同。

    Yuènán hé Zhōngguó de Chūnjié xísú bù jìn xiāngtóng.

    Phong tục Tết của Việt Nam và Trung Quốc không hoàn toàn giống nhau.

  • 有人说越南文化只是中华文化的翻版,其实不尽然。

    Yǒu rén shuō Yuènán wénhuà zhǐshì Zhōnghuá wénhuà de fānbǎn, qíshí bù jìnrán.

    Có người nói văn hóa Việt Nam chỉ là bản sao của văn hóa Trung Hoa, thực ra không hẳn vậy.

  • 汉越词的意思与现代汉语不尽一致。

    Hàn-Yuè cí de yìsi yǔ xiàndài Hànyǔ bù jìn yīzhì.

    Nghĩa của từ Hán Việt không hoàn toàn khớp với tiếng Hán hiện đại.

So với tiếng Việt

“Bất tận” trong tiếng Việt là “không bao giờ hết” (vô tận) – khác hẳn 不尽 = “không hoàn toàn”. Đây là một bẫy Hán Việt kinh điển trong chính phần ngữ pháp.

Trong bài: Văn hóa Trung Hoa trong văn hóa Việt Nam

皆 / 亦 – đều / cũng (phó từ văn ngôn)

Chủ ngữ (số nhiều) + 皆 + vị ngữ ; A…,B 亦 + vị ngữ

皆 (giai) = 都 (đều, tất cả), 亦 (diệc) = 也 (cũng). Hai phó từ văn ngôn này vẫn sống trong văn viết trang trọng, câu đối, khẩu hiệu và thành ngữ: 人人皆知 (ai ai cũng biết), 四海之内皆兄弟, 亦师亦友 (vừa là thầy vừa là bạn). Đứng trước động từ / tính từ như 都, 也.

  • 越南的文庙、寺庙皆以汉字题写匾额。

    Yuènán de Wénmiào, sìmiào jiē yǐ Hànzì tíxiě biǎn'é.

    Văn Miếu, chùa chiền ở Việt Nam đều đề hoành phi bằng chữ Hán.

  • 中国人过春节要祭祖,越南人亦然。

    Zhōngguórén guò Chūnjié yào jìzǔ, Yuènánrén yì rán.

    Người Trung Quốc ăn Tết phải cúng tổ tiên, người Việt cũng vậy.

  • 对越南学生来说,汉越词亦是助力,亦是陷阱。

    Duì Yuènán xuésheng lái shuō, Hàn-Yuè cí yì shì zhùlì, yì shì xiànjǐng.

    Với học sinh Việt Nam, từ Hán Việt vừa là trợ lực, vừa là cạm bẫy.

So với tiếng Việt

Đừng nhầm 皆 (giai – đều) với 阶 (giai – bậc, trong 阶级 giai cấp): cùng âm Hán Việt nhưng khác chữ, khác nghĩa. 亦然 = cũng vậy (然 = như thế). Đừng dùng 皆 / 亦 trong hội thoại thường ngày – nghe như đọc câu đối; nói 都 / 也 là đủ.

Trong bài: Văn hóa Trung Hoa trong văn hóa Việt Nam